Khủng hoảng COVID-19 thúc đẩy tái cấu trúc hiệu quả hơn cho bán lẻ

Dù COVID-19 đang đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cho lĩnh vực bán lẻ nhưng nhìn theo hướng tích cực đây sẽ là cơ hội để kích hoạt sự đổi mới, giúp bán lẻ chuyển đổi cấu trúc nhanh chóng, phù hợp với xu hướng tiêu dùng mới.

Việc đảm bảo chuỗi cung ứng hàng hóa thông suốt giúp các nhà bán lẻ kịp thời cung cấp hàng hóa trong mọi tình huống

Đảm bảo chuỗi cung ứng thông suốt

Nghiên cứu mới nhất của Công ty Nghiên cứu thị trường Kantar chỉ ra rằng, sự thay đổi hành vi mua sắm của người tiêu dùng trong mùa dịch đang mang lại cơ hội cho nhiều nhà bán lẻ khác nhau. Các nhà bán lẻ truyền thống như Big C, MM Mega Market… đã đạt mức tăng trưởng ấn tượng trong khoảng thời gian trước khi thực hiện lệnh giãn cách xã hội. Thậm chí sau giãn cách, sức mua tại các kênh bán lẻ này vẫn được duy trì ổn định.

Theo chia sẻ từ Tập đoàn Masan Group, kết thúc quý I/2020, kênh bán lẻ VinCommerce (được Masan hoàn tất sáp nhập vào cuối năm 2019) của tập đoàn này đã đạt tăng trưởng doanh thu thuần 40%, lợi nhuận cũng cải thiện đáng kể so với cùng kỳ. Để có doanh thu lợi nhuận như trên, trong giai đoạn đại dịch COVID-19 bùng phát, Masan đã đảm bảo chuỗi cung ứng hoạt động thông suốt, cung cấp đầy đủ hàng hóa với giá cả bình ổn, chất lượng cao đến tay người tiêu dùng. Đáng chú ý, COVID-19 bùng phát đúng thời điểm dịch tả lợn châu phi có dấu hiệu quay trở lại tại một số địa phương song Masan MEATLife (công ty thành viên của Masan – đơn vị sở hữu thương hiệu thịt mát MEATDeli) đã tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh cao nhất nên đảm bảo đưa đến tay người tiêu dùng sản phẩm thịt lợn an toàn nhất.

Tương tự, Saigon Co.op với hơn 800 điểm bán đã làm rất tốt việc đảm bảo chuỗi cung ứng trong mùa dịch bệnh. Ông Nguyễn Anh Đức – Tổng giám đốc Saigon Co.op – chia sẻ, nhà bán lẻ này đã luôn đảm bảo được lượng hàng cung ứng đầy đủ trong suốt mùa dịch nhờ lên kế hoạch tăng lượng hàng dự trữ ngay từ đầu tháng 2/2020 và đặt hàng dự trữ về các kho trung tâm tại Bình Dương, miền Tây, miền Bắc. Saigon Co.op cũng thực hiện đàm phán ký thỏa thuận dự trữ hàng tại kho các nhà cung cấp; dự trữ tại kho các siêu thị để kịp thời cung ứng hàng; có kế hoạch dự trữ riêng cho từng siêu thị để kịp thời cung cấp hàng hóa cho khách hàng.

Chuyển đổi theo xu hướng

Giới chuyên gia cho rằng, COVID-19 dù đang đặt ra nhiều khó khăn, thách thức đối với lĩnh vực bán lẻ song đây là cuộc khủng hoảng để kích hoạt sự đổi mới, khiến lĩnh vực bán lẻ tại Việt Nam chuyển đổi mạnh mẽ hơn. Đặc biệt, xu hướng mua sắm qua online trong bối cảnh mọi người phải hạn chế đi lại, tụ tập đến nơi đông người để phòng chống dịch bệnh đã được các nhà bán lẻ tại Việt Nam tận dụng phát triển. Điều này không chỉ giúp tăng trưởng doanh thu trong dịch mà còn trở thành xu hướng (kênh) mua sắm trong tương lai.

Theo đại diện Công ty AEON Việt Nam, ngay từ đầu tháng 2, khi dịch chưa bùng phát, AEON Việt Nam đã nhận thấy được xu hướng mua sắm online sẽ tăng mạnh nên công ty đã tăng cường thêm nhân sự cho bộ phận giao hàng, thúc đẩy mua sắm online. Nhờ vậy kết quả kênh bán hàng online của AEON Việt Nam đã tăng trưởng rất ấn tượng, số lượng đơn hàng online tăng gấp 3 lần trong dịch vừa qua. Đặc biệt đơn vị còn có dịch vụ đi chợ hộ qua điện thoại nhằm hỗ trợ các khách hàng chưa rành về công nghệ mua sắm trên app và website, người tiêu dùng chỉ cần gọi đến số điện thoại quầy dịch vụ khách hàng sẽ có nhân viên hỗ trợ lựa chọn hàng hoá rồi thanh toán tiền mặt khi nhận hàng hoặc trả qua thẻ. Đại diện của AEON Việt Nam cho biết, đây cũng là xu hướng công ty sẽ tiếp tục đẩy mạnh trong thời gian tới kể cả khi hết dịch.

Cách mà AEON Việt Nam thực hiện cũng được Saigon Co.op triển khai. Ông Đỗ Quốc Huy – Giám đốc Marketing của Saigon Co.op – cho biết, việc đẩy nhanh các hình thức này đã giúp doanh số bán ra của Saigon Co.op được duy trì, trong đó kênh bán online đã tăng gấp 10 lần so với trước đây.

Với Masan, việc triển khai bán hàng online, đặt hàng qua điện thoại không chỉ đáp ứng nhu cầu khách hàng mà còn để đảm bảo mục tiêu doanh thu cho VinCommerce sẽ đạt 45.000 – 48.000 nghìn tỷ đồng trong năm 2020.

Trong khi đó siêu thị Big C, ngoài kịp thời triển khai bán hàng qua điện thoại đã bổ sung tính năng đi chợ online trên ứng dụng Chopp còn Lotte Mart có ứng dụng mua sắm trực tuyến Speed L và tất cả đều được người tiêu dùng đón nhận tích cực.

“Có thể thấy, COVID-19 khiến lĩnh vực bán lẻ tại Việt Nam chuyển đổi cấu trúc nhanh chóng hơn theo hướng bán lẻ hiện đại để phù hợp với xu hướng tiêu dùng mới và tốc độ của quá trình này sẽ ngoài sức tưởng tượng của chúng ta” – Chủ tịch Tập đoàn Masan Group – ông Nguyễn Đăng Quang – khẳng định.

Theo Báo Công Thương điện tử

Doanh nghiệp vận tải xin miễn nộp phí bảo trì đường bộ

Trong bối cảnh phải dừng hoạt động theo chỉ đạo của Chính phủ vì dịch COVID-19, nhiều doanh nghiệp vận tải đề nghị được miễn phí bảo trì trong thời gian xe không chạy. Đây cũng là giải pháp giúp doanh nghiệp bớt khó khăn…

Hơn 87 đầu xe của Công ty CP Vận tải ô tô Tiền Giang ngừng hoạt động để phòng, chống dịch bệnh COVID-19

Hơn 87 đầu xe của Công ty CP Vận tải ô tô Tiền Giang ngừng hoạt động để phòng, chống dịch bệnh COVID-19

Quá nhiều thủ tục, doanh nghiệp nản

Vận tải hành khách, hàng hóa giảm đến 90%. Những chặng tuyến còn hoạt động cũng không hiệu quả. Thực tế trên khiến hầu hết các doanh nghiệp (DN) kinh doanh vận tải ôtô và bến xe đều “lao đao” vì dịch COVID-19. Khó càng thêm khó, các DN phải “cầu cứu” cơ quan chức năng giảm lãi suất ngân hàng, giãn nợ vay. Miễn phí bảo trì đường bộ cũng là một trong những đề xuất được các DN tha thiết gửi đến các cơ quan chức năng.

Ông Khúc Hữu Thanh Hải, Giám đốc Công ty Cổ phần Vận tải thương mại và dịch vụ Đất Cảng nói: “Để được miễn phí bảo trì đường bộ, trước tiên, DN phải nộp lại phù hiệu cho Sở GTVT, sau đó cơ quan này mới xác nhận xe đã dừng hoạt động. Tiếp đó, phải mang giấy xác nhận và sổ đăng kiểm nộp cho cơ quan đăng kiểm mới được trừ vào tiền phí bảo trì đường bộ của kỳ tiếp theo.

“Một vài DN thì dễ, nhưng hàng trăm DN với hàng chục nghìn xe cùng xin miễn sẽ mất nhiều thời gian để Sở GTVT xác nhận xong”, ông Hải nói và cho biết thêm: Chưa tính xe tuyến cố định và xe hợp đồng, chỉ riêng taxi Hải Phòng đã có khoảng 4.000 xe. DN có hàng trăm xe phải đi xin xác nhận cho từng xe với nhiều thủ tục hành chính phiền hà khiến DN ngại. Chưa kể, khi DN muốn hoạt động trở lại, quy trình xin cấp lại phù hiệu như xin cấp mới, phải lấy sổ đăng kiểm nộp lại cho Sở GTVT mới được cấp lại phù hiệu.

“Nhiều DN xe hợp đồng đã dừng hoạt động mấy tháng nay, nhưng không dám nộp lại phù hiệu vì biết đâu ngày mai có thể hết cách ly được chạy lại ngay. Khi đó, thời gian làm thủ tục, mất mấy ngày kinh doanh còn mất nhiều tiền hơn số tiền được miễn giảm. Với số lượng hàng trăm xe, số tiền phí nộp hàng tháng cả trăm triệu đồng nhưng nhiều DN thấy thủ tục phiền hà nên ngại không muốn làm”, ông Hải nói.

Chưa phương tiện nào đủ thủ tục

Là DN có hơn 200 xe, chiếm phần lớn thị phần vận tải khách tại Bắc Giang, Công ty CP Xe khách Bắc Giang đang gặp nhiều khó khăn vì dịch Covid-19. Ông Nguyễn Trần Chung, Phó tổng giám đốc Công ty CP Xe khách Bắc Giang cho biết, từ ngày 1 – 15/4, công ty đã dừng hẳn hoạt động kinh doanh để phòng dịch theo chỉ đạo của Chính phủ. “Công ty đã có văn bản đề nghị được hỗ trợ như: Giảm thuế VAT xuống 5%; giảm phí BOT từ 10 – 20% đối với các phương tiện chở khách từ 16 chỗ trở lên. Nhất là chính sách miễn phí bảo trì đường bộ cho DN. Tuy nhiên, đại diện Sở GTVT tỉnh Bắc Giang đã trả lại đơn vị với lý do chờ hướng dẫn của Bộ GTVT”, ông Chung nói.

Xác nhận trường hợp này, lãnh đạo Phòng Quản lý vận tải, phương tiện và người lái, Sở GTVT tỉnh Bắc Giang cho biết: “Công ty CP Xe khách Bắc Giang và một số DN có đến hỏi, đề nghị triển khai các gói hỗ trợ của Chính phủ. Sau đó, Sở có viện dẫn quy định hướng dẫn của Bộ Tài chính về việc các đơn vị bị ảnh hưởng trong thời gian tối thiểu là 30 ngày mới đủ điều kiện hỗ trợ. Trong khi đó, hầu hết các đơn vị mới chỉ bị ảnh hưởng trong 15 ngày nên đề nghị tiếp tục chờ hướng dẫn triển khai cụ thể của các bộ, ngành. Từ đó đến nay, toàn tỉnh chưa có DN vận tải nào kê khai, đề nghị hỗ trợ tiếp”.

Tại Long An, ông Đặng Hoàng Tuấn, Phó giám đốc Sở GTVT Long An cho biết, chưa nhận được văn bản hướng dẫn của Bộ GTVT về miễn, giảm phí bảo trì đường bộ. Tuy nhiên, Sở đã chủ động triển khai đến các doanh nghiệp Thông tư 293/2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, miễn, quản lý và sử dụng phí đường bộ. Nhưng, đến nay Long An chưa có DN nộp hồ sơ xin miễn, giảm theo thông tư này.

Tương tự, lãnh đạo nhiều trung tâm đăng kiểm cho biết, một số chủ phương tiện, DN kinh doanh vận tải đề nghị được giảm phí sử dụng đường bộ do xe bị tạm dừng vận tải để phòng, chống dịch Covid-19. Tuy vậy, chưa có trường hợp xe nào được miễn phí do thiếu thủ tục, giấy tờ xác nhận của Sở GTVT địa phương được quy định tại Thông tư 293/2016 của Bộ Tài chính.

“Chủ xe kinh doanh vận tải có thể đến bất kỳ đơn vị đăng kiểm nào để làm thủ tục giảm phí sử dụng đường bộ. Tuy nhiên, quy định thủ tục là xe phải tạm dừng lưu hành liên tục 30 ngày trở lên, nộp lại phù hiệu vận tải, giấy chứng nhận đăng kiểm cho Sở GTVT và có văn bản xác nhận của Sở GTVT về việc dừng lưu thông. Dù thực tế có phương tiện bị dừng do dịch nhưng chưa phương tiện nào thực hiện đủ thủ tục trên nên đơn vị đăng kiểm không thể tự miễn phí sử dụng đường bộ”, ông Phan Đức, Giám đốc Trung tâm Đăng kiểm 15-01V nói.

Xe chạy hay không, xem thiết bị GSHT là biết

Là một trong số các hãng taxi có số lượng xe nhiều nhất tỉnh Nghệ An, lên đến gần 300 đầu xe, Vạn Xuân taxi hiện cũng đang lâm vào cảnh khó khăn khi hai tháng liên tiếp phải dừng hoạt động.

Ông Nguyễn Xuân Đạt, Giám đốc Vạn Xuân taxi băn khoăn: “Theo quy định, phải đủ 30 ngày xe không hoạt động mới được miễn phí bảo trì đường bộ. Tuy nhiên, thực tế đến nay các xe đã ngừng chạy được 20 ngày, nhưng nếu sau 22 ngày, 25 ngày mà Chính phủ cho hoạt động trở lại, chúng tôi có được miễn nữa không? Thời gian trước ngày 1/4 cũng có rất nhiều phương tiện phải nghỉ vì giãn cách xã hội vì không có khách, vậy có được hỗ trợ miễn giảm hay không?”.

Theo ông Đạt, các cơ quan QLNN cần chủ động trong việc hỗ trợ DN vận tải như các ngành nghề khác. “Ngân hàng cho giảm lãi, thuế cho giảm thuế, bảo hiểm giảm phí… nên chăng cũng cần thực hiện miễn phí bảo trì đường bộ luôn, thay vì cứng nhắc buộc lái xe, DN tới nộp phù hiệu, làm hồ sơ, đi xác nhận. Xe chạy hay không thì cơ quan quản lý chỉ cần mở thiết bị GSHT lên là biết. Thêm nữa, việc dừng hoạt động này thực hiện trên cả nước theo Chỉ thị của Thủ tướng thì việc miễn phí là điều tất yếu, tại sao lại bắt phải làm hồ sơ xác nhận?”, ông Đạt đặt câu hỏi.

Đồng quan điểm, ông Khúc Hữu Thanh Hải cũng cho rằng, quy định xe dừng trên 30 ngày mới được giảm phí là quy định trong điều kiện bình thường, còn trong trường hợp có thiên tai, dịch bệnh, xe dừng hoạt động là chủ trương chung toàn quốc. Sau khi Thủ tướng chỉ đạo, Bộ GTVT đã quyết định cho dừng toàn bộ hoạt động của các tuyến vận tải hành khách bằng xe ô tô trong vòng 15 ngày. Ngay sau đó, Tổng cục Đường bộ VN cũng có văn bản tạm đình chỉ hiệu lực phù hiệu của kinh doanh vận tải, đương nhiên xe kinh doanh vận tải đã dừng hoạt động. Những văn bản có tính pháp lý đó hoàn toàn có thể thay được xác nhận của Sở GTVT về xe dừng hoạt động.

“Không nên nặng nề quá về thủ tục hành chính trong điều kiện dịch bệnh, hỗ trợ nửa tháng hay một tháng hay cũng là động viên DN. Cũng tương tự như ngân hàng tự động giảm lãi cho DN. Thay vì phải làm nhiều thủ tục, chỉ cần Sở GTVT xác nhận bằng email về số lượng xe dừng hoạt động và cơ quan đăng kiểm cập nhật vào hệ thống, tự khấu trừ phí bảo trì đường bộ tương ứng với thời gian xe dừng hoạt động vào kỳ đóng tiếp theo”, ông Hải đề xuất.

Ở góc độ cơ quan đăng kiểm, ông Võ Thanh Bình, Trưởng phòng Tài chính Cục Đăng kiểm VN cũng cho biết: Cơ quan đăng kiểm không thể tự quyết việc giảm trừ thu phí đường bộ đối với trường hợp xe kinh doanh vận tải bị cơ quan chức năng thu hồi phù hiệu vận tải để phục vụ mục đích phòng, chống dịch COVID-19. Chỉ khi Bộ Tài chính có văn bản quy định, hướng dẫn đối với việc không thu phí đường bộ đối với trường hợp dừng dưới 30 ngày do dịch, cơ quan đăng kiểm mới không thu. “Nên xem xét việc dừng quyết định thu hồi phù hiệu vận tải của cơ quan chức năng để chống dịch, làm căn cứ để thực hiện việc miễn phí đường bộ trong thời gian xe tạm dừng hoạt động”, ông Bình cho biết.

Đồng quan điểm, ông Phan Đức, Giám đốc Trung tâm Đăng kiểm 15-01V cho rằng, việc nhiều xe kinh doanh vận tải bị dừng do dịch COVID-19 là tình huống phát sinh, để tháo gỡ vướng mắc đối với trường hợp xe dừng dưới 30 ngày, Bộ Tài chính chỉ cần có văn bản hướng dẫn để Sở GTVT, đơn vị đăng kiểm có thể thực hiện, thay vì phải sửa đổi Thông tư 23/2016.

Về số lượng xe đã làm thủ tục miễn, Cục Đăng kiểm VN cho biết, thông thường các phương tiện tạm nghỉ lưu hành và được miễn phí sử dụng đường bộ, khi đi đăng kiểm tiếp theo mới làm thủ tục, tính toán đối trừ số phí được giảm. Do đó, hiện chưa thống kê được số lượng xe đã nghỉ lưu hành và được miễn phí.

“Cục Đăng kiểm VN đã thực hiện hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho DN, chủ phương tiện bằng cách gia hạn thời hạn giấy chứng nhận đăng kiểm đối với tàu biển chạy tuyến quốc tế bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, đồng thời báo cáo Bộ GTVT đề xuất Bộ Tài chính xem xét, bỏ lệ phí cấp giấy chứng nhận xe cơ giới đang lưu hành đối với phương tiện bị ảnh hưởng”, đại diện Cục Đăng kiểm VN cho biết.

Theo Báo Giao thông

Năm 2020, Việt Nam có thể xuất 6,5-6,7 triệu tấn gạo

Bộ NN&PTNT cho biết, tổng sản lượng lúa cả nước năm 2020 khoảng 43,5 triệu tấn, không những đảm bảo nhu cầu tiêu thụ trong nước, còn đảm bảo lượng xuất khẩu 6,5 -6,7 triệu tấn gạo.

Năm 2020, Việt Nam có thể xuất 6,5 – 6,7 triệu tấn gạo

Doanh nghiệp gặp khó

Trao đổi với Tiền Phong, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Tập đoàn Intimex, một trong những DN xuất khẩu gạo lớn nhất cả nước cho biết, lệnh dừng xuất khẩu gạo bất ngờ, giới doanh nghiệp (DN) xuất khẩu rúng động vì nhiều lô hàng đã chất lên tàu.

Lãnh đạo một DN xuất khẩu lớn khác cho biết, DN đã nhận được công văn của Hải quan tạm dừng xuất khẩu từ 0 giờ ngày 24/3. Theo vị giám đốc này, do dịch bệnh, nên người dân ở một số địa phương đổ xô đi mua dự trữ, thị trường chưa kịp điều tiết, nên dẫn đến thiếu cục bộ, các bộ ngành mới lo lắng.

“Chúng tôi đang tăng ca tối đa để cấp gạo cho thị trường nội địa mùa dịch COVID-19. Điều đang lo, nhiều DN đã ký hợp đồng xuất khẩu từ đầu vụ với giá thấp, nay giá gạo lên cao, họ phải mua vào với giá cao để giao hàng, nên đứng trước nguy cơ lỗ nặng”, vị giám đốc nói.

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, hiện giá gạo 5% tấm của Việt Nam xuất khẩu đang ở mức 428-432 USD/tấn, so với khoảng mức 345 USD/tấn từ đầu vụ. Giá gạo xuất khẩu tới nay đã tăng 80-85 USD/tấn- mức cao nhất trong nhiều năm qua. Với mức giá trên, so với cùng phân khúc, giá gạo Việt Nam hơn gạo Thái khoảng 40 USD/tấn, nhưng cao hơn Ấn Độ tới 80 USD/tấn.

Theo ông Phạm Xuân Quế, Tổng Giám đốc Tổng Cty lương thực miền Bắc (Vinafood 1), nếu thị trường khả quan, chắc chắn mục tiêu xuất khẩu 6,7 triệu tấn, kim ngạch trên 3 tỷ USD của ngành lúa gạo hoàn toàn có thể đạt được. Ông cho biết, giá gạo Việt Nam thu hẹp với gạo Thái, nhưng cao hơn gạo Ấn Độ, Pakistan, Myanmar… là các đối thủ của Việt Nam. “Các nước tăng cường nhập khẩu gạo, các hợp đồng lớn liên tục bay về” – ông Quế nói.

Trao đổi với PV Tiền Phong, đại diện một số DN xuất khẩu gạo lớn cho biết, cùng với diễn biến bất thường của dịch COVID-19, các DN xuất khẩu gạo đang trong cảnh tiến thoái lưỡng nan nếu phải dừng xuất khẩu gạo kéo dài.

Lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2) cho hay, để đáp ứng đơn hàng, hiện nhiều doanh nghiệp trong nước đã mua vào một lượng gạo tương đối lớn để chuẩn bị giao theo hợp đồng cho các đối tác. Như doanh nghiệp của ông, đã mua hơn 300 nghìn tấn gạo để thực hiện hợp đồng đã ký giao trong tháng 4.

Chủ tịch HĐQT một DN xuất khẩu gạo tại TPHCM cho hay, với việc tạm dừng không được xuất khẩu, doanh nghiệp sẽ “đứng hình” vì không biết xử lý hợp đồng với khách hàng thế nào và lấy nguồn tiền đâu để trả lãi vay ngân hàng, trả tiền mua hàng các đại lý thu mua.

Theo vị này, các DN chắc chắn sẽ phải chấp hành yêu cầu dừng xuất khẩu gạo của cơ quan quản lý. Đặc biệt, nếu đã có cảnh báo về việc thiếu lương thực trong nước nếu không cân đối xuất khẩu thì việc tạm dừng cũng là cần thiết. Tuy nhiên, hiện nay các DN xuất khẩu gạo phần lớn là làm thương mại. Vì vậy, nếu không được xuất khẩu, chắc chắn hoạt động của DN sẽ bị ảnh hưởng rất lớn do khách hàng sẽ phạt hợp đồng, thậm chí hủy đơn hàng cho các lần sau.

Việt Nam có thực sự thiếu gạo?

Ngày 25/3, Bộ NN&PTNT cho biết, Bộ đã phối hợp với các bộ ngành, địa phương để chỉ đạo các giải pháp, đảm bảo được kế hoạch sản xuất lúa năm 2020, với sản lượng lúa dự kiến đạt 43,5 triệu tấn.

Trong 6 tháng đầu năm, toàn bộ lúa vụ Đông Xuân cả nước sẽ được thu hoạch, sản lượng dự kiến đạt khoảng 20,2 triệu tấn thóc, trong đó các tỉnh ĐBSCL khoảng 10,8 triệu tấn (hiện đã thu hoạch 1,3 triệu ha, sản lượng 9 triệu tấn), còn lại 9,4 triệu tấn ở các vùng miền còn lại.

Dự báo 6 tháng cuối năm, toàn bộ lúa Hè Thu, Mùa, Thu Đông cả nước thu hoạch cho sản lượng 23,4 triệu tấn thóc, trong đó các tỉnh phía Bắc là 6,2 triệu tấn, các tỉnh phía Nam là 17,2 triệu tấn.

Lãnh đạo một DN xuất khẩu gạo có tiếng tại TPHCM cho biết, đơn vị “mắc kẹt” 4 container gạo tại cảng Sài Gòn. Số gạo này chuẩn bị xuất sang Úc, nhưng đến cảng mới được hải quan thông báo tạm ngừng thông quan từ 0h ngày 24/3. “Lô hàng lần này trị giá hơn 1,2 tỷ đồng. Để có đơn hàng xuất khẩu, chúng tôi phải chuẩn bị cả tháng, tốn rất nhiều nhân công và chi phí. Quyết định tạm dừng xuất gạo không chỉ khiến đơn hàng dở dang, mà còn gây mất niềm tin với đối tác. Dù hôm nay đã được thông quan trở lại nhưng e rằng trễ hợp đồng. Chúng tôi đang thương lượng với đối tác và chưa nhận được phản hồi” – vị này cho hay.

Bộ NN&PTNT nhận định, nhu cầu lương thực trong nước cũng như thế giới có thể sẽ tăng do một số quốc gia và người dân có thể mua để tích trữ. Do đó, Bộ sẽ theo dõi chặt chẽ diễn biến của thị trường để có thể điều chỉnh tăng diện tích lúa Thu Đông lên khoảng 800 nghìn ha nếu có thể.

Theo Tiền phong

Container tồn đọng tại cảng biển giảm hơn 60%

Số lượng container tồn đọng tại cảng biển liên tục được kéo giảm nhờ các biện pháp quyết liệt của cơ quan chức năng.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến ngày 21/2/2020, số container tồn đọng lưu giữ trên 90 ngày tại cảng biển Việt Nam là 3.423 container, giảm 65% so với cùng kỳ năm 2019.

Trước đó, tại thời điểm tháng 2/2019, hệ thống cảng biển Việt Nam lưu giữ hơn 23.000 container phế liệu. Trong đó, số lượng container lưu giữ trên 90 ngày lên tới hơn 9.800 container.

Theo Cục Hàng hải VN, kết quả trên đã phản ánh sự quyết liệt của các Bộ, ngành trong suốt thời gian qua. Trong đó, trên cơ sở chỉ đạo, chấp thuận của Chính phủ, Tổ công tác liên ngành gồm: Bộ Tài Chính, Bộ GTVT, Bộ Tài Nguyên – Môi trường; Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp được thành lập để chỉ đạo Hội đồng xử lý hàng hóa tại Cục Hải quan các tỉnh, thành phố triển khai xử lý các lô hàng phế liệu vô chủ.

Đối với những lô hàng quá 90 ngày kể từ ngày đến cửa khẩu hết thời hạn thông báo theo quy định nhưng không có người đến nhận, Hội đồng xử lý hàng hóa đã phối hợp với tổ chức giám định kiểm kê, phân loại. Nếu hàng tồn đọng là phế liệu không đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, cơ quan hải quan phải yêu cầu hãng tàu vận chuyển lô hàng đó ra khỏi lãnh thổ Việt Nam trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo.

Trường hợp hãng tàu cố tình không vận chuyển, cơ quan hải quan lập danh sách làm cơ sở kiến nghị Bộ GTVT, Bộ Khoa học – Công nghệ có biện pháp xử lý hoặc dừng cấp phép ra, vào cảng biển Việt Nam.

“Riêng đối với ngành hàng hải, thực hiện Chỉ thị 27 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp cấp bách tăng cường công tác quản lý đối với hoạt động nhập khẩu và sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất, Cục Hàng hải đã yêu cầu các DN cảng biển phải thống kê, phân loại hàng hóa container đang tồn đọng, đốc thúc hãng tàu báo cáo thông tin về các chủ hàng của lô hàng phế liệu bị tồn tại cảng.

Cùng đó, Cục đã yêu cầu DN cảng biển thực hiện miễn giảm giá dịch vụ lưu kho, lưu bãi để tạo điều kiện cho các DN nhập khẩu rút hàng về, kiên quyết không cho hàng hóa dỡ xuống cảng biển Việt Nam khi chủ tàu, chủ hàng không xuất trình được giấy chứng nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường, hạn ngạch nhập khẩu và chưa thực hiện ký quỹ bảo đảm phế liệu nhập khẩu theo quy định”, đại diện Cục Hàng hải nói.

Chia sẻ với Báo Giao thông, ông Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc Cảng Nam Hải – Đình Vũ (Hải Phòng) – một trong những cảng có lượng container có thời gian lưu giữ trên 90 ngày lớn nhất khu vực phía Bắc với hơn 1.000 container cho biết, từ tháng 5/2019, cảng Nam Hải – Đình Vũ đã áp dụng chính sách giảm chi phí lưu kho, bãi cho DN xuất nhập khẩu.

“Mức giảm phí dao động từ 50 – 70%, thậm chí, những container hàng giá trị thấp như giấy, cảng chấp nhận miễn hoàn toàn phí gửi. Với chính sách trên, thời gian qua, trung bình mỗi tháng, cảng giải phóng được khoảng 100 container, chủ yếu là mặt hàng nhựa phế liệu làm nguyên liệu sản xuất”, ông Tuấn nói và cho biết, mặc dù tốc độ rút container vẫn tương đối chậm, song, số lượng container được rút ra đã giảm bớt gánh nặng chi phí gửi container tồn đọng cho cảng Nam Hải – Đình Vũ.

Theo Báo Giao thông

Việt Nam tiếp tục nhập siêu trong nửa đầu tháng 2

Trong kỳ 1 tháng 2, cán cân thương mại của Việt Nam tiếp tục thâm hụt 30 triệu USD, khiến luỹ kế từ đầu năm đến hết ngày 15/2, cán cân thương mại của Việt Nam thâm hụt 410 triệu USD.

Việt Nam tiếp tục nhập siêu trong nửa đầu tháng 2

Việt Nam tiếp tục nhập siêu trong nửa đầu tháng 2

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tổng trị giá xuất khẩu , nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 2/2020 (từ ngày 1/2 đến ngày 15/2) đạt 19,23 tỷ USD, tăng 32% so với kỳ 2 tháng 1/2020 và tăng 3,3% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong kỳ 1 tháng 2, cán cân thương mại của Việt Nam tiếp tục thâm hụt 30 triệu USD, khiến luỹ kế từ đầu năm đến hết ngày 15/2, cán cân thương mại của Việt Nam thâm hụt 410 triệu USD.

Cán cân thương mại của Việt Nam theo từng tháng

Cán cân thương mại của Việt Nam theo từng tháng

Về xuất khẩu, trong kỳ 1 tháng 2, Việt Nam đạt giá trị xuất khẩu là 9,6 tỷ USD, tăng 30% so với kỳ trước đó là giai đoạn có một tuần nghỉ Tết Nguyên đán. Trong đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt giá trị xuất khẩu 6,78 tỷ USD.

Luỹ kế đến hết ngày 15/2, giá trị xuất khẩu của Việt Nam đạt 27,86 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, giá trị xuất khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 18,5 tỷ USD.

Tương tự các tháng trước đó, trong kỳ 1 tháng 2, Việt Nam tiếp tục có thế mạnh xuất khẩu ở một số mặt hàng như: Điện thoại các loại và linh kiện; Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; Hàng dệt may; Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng và giày dép các loại.

Về nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 2 đạt 9,62 tỷ USD, tăng 33,7% so với kỳ 2 tháng 1. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 5,8 tỷ USD.

Luỹ kế đến hết ngày 15/2, giá trị nhập khẩu của Việt Nam đạt 28,27 tỷ USD, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, giá trị nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 16,5%.

Cũng theo báo cáo sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong kỳ 1 tháng 2/2020 có 2 nhóm mặt hàng có giá trị nhập khẩu trên 1 tỷ USD, bao gồm: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 2,3 tỷ USD; Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 1,3 tỷ USD.

Theo Bizlive.

Trang chủ Logistics Hải Quan Đã tái xuất 25 cotainer phế liệu tồn tại cảng Cát Lái

Trong số phế liệu tồn đọng tại cảng Cát Lái- TPHCM, cơ quan Hải quan đã làm thủ tục tái xuất 25 container.

Giám định phế liệu nhập khẩu qua cảng Cát Lái

Giám định phế liệu nhập khẩu qua cảng Cát Lái

Theo Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1, trên 2.000 container phế liệu nhập khẩu qua cảng Cát Lái còn tồn đọng đang được đơn vị kiểm kê, phân loại.

Trong đó, có 25 container đã được tái xuất. Số còn lại có trên 100 container thuộc diện khóa trọng điểm, gần 300 container thuộc các chuyên án đang điều tra nên cũng đang được cơ quan chức năng tạm khóa, trên 160 container đã được doanh nghiệp mở tờ khai hải quan nhưng chưa nhận hàng.

Hiện Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 đã thực hiện phân loại được 300 container, số còn lại sẽ tiếp tục được phân loại để xử lý rốt ráo trong thời gian tới.

Tại buổi làm việc vào cuối tuần qua với lãnh đạo Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1, Cục trưởng Cục Hải quan TPHCM Đinh Ngọc Thắng yêu cầu Chi cục chủ động phối hợp với Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn đẩy nhanh tiến độ phân loại, để khẩn trương xử lý số phế liệu tồn nêu trên, giải phóng mặt bằng cho cảng, thu hút hàng hóa XNK…

Theo Báo Hải Quan Online

Tiếp tục đóng cửa khẩu giao thương, doanh nghiệp phải làm gì?

Chính quyền tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) đã quyết định lùi thời gian mở cửa khẩu ít nhất tới cuối tháng 2. Việc xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc tiếp tục gặp khó khăn, doanh nghiệp cần làm gì trong tình thế này?

Các cửa khẩu phụ sẽ tiếp tục đóng ít nhất đến hết tháng o2/2020

Các cửa khẩu phụ sẽ tiếp tục đóng ít nhất đến hết tháng o2/2020

Thông tin từ Bộ Công Thương cho biết chính quyền tỉnh Quảng Tây đã quyết định kéo dài thời gian đóng cửa các chợ biên giới và tiếp tục tạm dừng hoạt động trao đổi hàng hóa cư dân biên giới, ít nhất là tới cuối tháng 02/2020.

Chính quyền tỉnh Vân Nam hiện chưa có thông tin chính thức nhưng trước những diễn biến phức tạp của dịch nCoV gây ra, nhiều khả năng chính quyền tỉnh Vân Nam cũng sẽ đưa ra quyết định tương tự.

Như vậy các cửa khẩu phụ, con đường chủ yếu để xuất khẩu nông sản Việt Nam sang Trung Quốc như Tân Thanh, Na Hình, Bình Nghi (Lạng Sơn) và cửa khẩu Lào Cai – Vân Nam… sẽ tiếp tục đóng.

Quyết định của 2 tỉnh Quảng Tây và Vân Nam đều đã được Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự tính và liên tục cảnh báo trong những ngày qua.

Tuy nhiên, quyết định của 2 tỉnh Quảng Tây và Vân Nam chỉ ảnh hưởng tới hàng hóa đưa lên biên giới để xuất khẩu theo hình thức trao đổi cư dân.

Các lô nông sản xuất khẩu theo đường chính ngạch, kể cả thanh long, vẫn được làm thủ tục thông quan bình thường dù tiến độ có phần chậm hơn do phải thực hiện nghiêm các biện pháp phòng chống dịch bệnh.

Trước đó, theo khuyến nghị của 2 Bộ, các doanh nghiệp đã có các biện pháp điều tiết nên lượng thanh long và dưa hấu đưa lên biên giới để xuất khẩu theo hình thức trao đổi cư dân đã chậm lại đáng kể.

Đại diện Bộ Công Thương cho biết, trước quyết định vẫn tiếp tục đóng biên giới, Bộ đã có văn bản đề nghị Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Quảng Tây và Vân Nam giao thiệp với chính quyền 2 tỉnh để trao đổi các biện pháp nhằm giảm thiểu tác động của việc đóng cửa các chợ biên giới và dừng hoạt động trao đổi hàng hóa cư dân biên giới.

Nhưng đại diện bộ này cũng nhận định, trước diễn biến phức tạp và dự kiến còn kéo dài của dịch bệnh, khả năng 2 Bên có thể sớm đưa ra những biện pháp hữu hiệu là không nhiều.

Trước tình hình đó, Bộ Công Thương đã có văn bản khuyến nghị đến các hiệp hội, doanh nghiệp và người dân có biện pháp để điều tiết sản lượng, ít nhất là không sử dụng các biện pháp để gia tăng sản lượng vào thời điểm này.

Với sản lượng đã hoặc sắp thu hoạch, tiếp tục hạn chế đưa hàng lên biên giới trừ trường hợp đưa lên để xuất khẩu theo hình thức chính ngạch; Hoặc liên hệ với chủ hàng để đàm phán chuyển đổi sang hình thức chính ngạch.

Đồng thời chủ động áp dụng các biện pháp để sẵn sàng chuyển đổi sang hình thức chính ngạch như thay đổi bao bì, nhãn mác hàng hóa, dán tem truy xuất nguồn gốc…

Bộ Công Thương cam kết sẽ chỉ đạo các Phòng giấy phép của Bộ tại các địa phương ưu tiên cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) cho những lô hàng sẵn sàng chuyển sang hình thức chính ngạch.

Theo Pháp luật Việt Nam

Giảm hơn 17.500 container phế liệu tồn đọng tại cảng biển

Năm 2019, số container phế liệu tại cảng biển giảm hơn 17.500 container so với năm trước.

Số container hàng hóa phế liệu tại cảng biển giảm mạnh nhờ sự vào cuộc mạnh mẽ của các cấp chức năng

Số container hàng hóa phế liệu tại cảng biển giảm mạnh nhờ sự vào cuộc mạnh mẽ của các cấp chức năng

Số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan cho biết, năm 2019, số container hàng hóa là phế liệu tồn đọng lưu giữ tại các cảng đã giảm 17.567 container so với năm 2018.

Tính đến tháng 11/2019, số lượng container phế liệu được lưu giữ tại cảng biển là 8.748 container. Trong đó, có 3.102 container được lưu dưới 30 ngày, 46 container lưu tại kho, bãi từ 30 – 90 ngày và 5.600 container tồn đọng tại kho, bãi, cảng trên 90 ngày.

Phía Cục Hàng hải VN cho hay, để kéo giảm lượng container phế liệu tồn đọng tại cảng biển, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 27 về một số giải pháp cấp bách tăng cường công tác quản lý đối với hoạt động nhập khẩu và sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất.

Đến tháng 12/2019, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục có Quyết định số 35 ban hành quy chế phối hợp liên ngành quản lý hoạt động nhập khẩu phế liệu. Trong đó quy định rõ, khi phát sinh các vấn đề cần xử lý thuộc thẩm quyền của cơ quan nào thì cơ quan đó chủ trì và các đơn vị khác phối hợp; Khi phát sinh vụ việc thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan quản lý thì cơ quan nào thụ lý đầu tiên sẽ chủ trì xử lý.

“Hiện tại, Cục Hàng hải VN vẫn tích cực phối hợp cùng các bộ, ngành kiểm soát chặt chẽ các lô hàng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất đưa về Việt Nam.

Cục cũng liên tục có văn bản yêu cầu các DN cảng biển phải thống kê, phân loại hàng hóa container đang tồn đọng, đốc thúc hãng tàu biển báo cáo thông tin về các chủ hàng của lô hàng phế liệu bị tồn tại cảng; Kiên quyết không cho hàng hóa dỡ xuống cảng biển Việt Nam khi chủ tàu không xuất trình được giấy chứng nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường, hạn ngạch nhập khẩu và chưa ký quỹ bảo đảm phế liệu nhập khẩu theo quy định; Đồng thời, thực hiện miễn giảm giá dịch vụ lưu kho, lưu bãi để tạo điều kiện cho các DN nhập khẩu có thể rút hàng về”, đại diện Cục Hàng hải nói.

Được biết, trên cơ sở chỉ đạo của Chính phủ và ý kiến của Bộ, ngành liên quan, vừa qua, Bộ Tài chính đã có văn bản đề xuất Chính phủ hướng xử lý hàng hóa tồn đọng là phế liệu tại cảng biển.

Với những lô hàng quá 90 ngày kể từ ngày đến cửa khẩu hết thời hạn thông báo theo quy định nhưng không có người đến nhận, Hội đồng xử lý hàng hóa phải phối hợp với tổ chức giám định kiểm kê, phân loại. Nếu hàng tồn đọng là phế liệu không đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, cơ quan hải quan phải yêu cầu hãng tàu vận chuyển lô hàng đó ra khỏi lãnh thổ Việt Nam trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo.

Trường hợp hãng tàu cố tình không vận chuyển, cơ quan hải quan lập danh sách làm cơ sở kiến nghị Bộ GTVT, Bộ Khoa học – Công nghệ có biện pháp xử lý hoặc dừng cấp phép ra, vào cảng biển Việt Nam.

Theo Báo Giao Thông

Hơn 13 triệu tờ khai thực hiện thủ tục hải quan điện tử

Thực hiện thủ tục hải quan điện tử là một trong những kết quả nổi bật trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến của ngành Hải quan trong năm 2019.

Cơ cấu tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến của ngành Hải quan theo 4 cấp độ đang được quy định hiện nay

Cơ cấu tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến của ngành Hải quan theo 4 cấp độ đang được quy định hiện nay

Thực hiện kế hoạch của Bộ Tài chính, trong năm 2019, Tổng cục Hải quan đã tiếp tục nâng cấp 2 dịch vụ công trực tuyến từ mức độ 1 lên mức độ 4.

Qua đó, đưa tổng số dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 lên đến 172/193 thủ tục hành chính (chiếm 89%), trong số đó có 163 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4. Các thủ tục hành chính cốt lõi như thông quan hàng hóa, thu thuế xuất nhập khẩu đã được cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, mức độ cao nhất, cho phép tiếp nhận, xử lý hồ sơ, thanh toán thuế, phí, lệ phí và trả kết quả hoàn toàn thông qua mạng internet.

Năm 2019, ngành Hải quan đã tiếp nhận và xử lý 13,24/13,33 triệu tờ khai hải quan điện tử (chiếm tỷ lệ 99,34%); tỷ lệ kim ngạch cũng đạt tới 99,94%.

Cùng với đó, số tiền thuế, phí thu bằng phương thức điện tử chiếm tỷ lệ 96,8% số thu của Tổng cục Hải quan.

Tổng cục Hải quan cũng đã phối hợp với các bên liên quan thực hiện công tác chuẩn bị cho việc tích hợp một số dịch vụ công trực tuyến của ngành Hải quan lên Cổng dịch vụ công quốc gia.

Ngoài ra, thực hiện Kế hoạch phát triển, vận hành hệ thống Cổng thông tin điện tử ngành Hải quan giai đoạn 2016-2020, từ ngày 10/10/2019, Tổng cục Hải quan đã triển khai phiên bản mới của Cổng Thông tin điện tử Tổng cục Hải quan và triển khai cổng Thông tin điện tử cho 4 Cục Hải quan: Điện Biên, Cao Bằng, Hà Nam Ninh và Khánh Hòa (những đơn vị chưa có cổng Thông tin điện tử).

Theo Báo Hải quan

Logistics sẽ quyết định cuộc chơi EVFTA

Trong khi nhiều hiệp hội ngành hàng đã có quỹ thời gian hàng năm để chuẩn bị cho Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) thì nhiều doanh nghiệp (DN) trong lĩnh vực logistics (dịch vụ vận chuyển, hậu cần) đang bị động khi Hiệp định này sắp có hiệu lực…

Nửa đầu 2020, EVFTA có hiệu lực?

Theo Bộ Công Thương, quan hệ thương mại Việt Nam – Liên minh Châu Âu (EU) đã phát triển rất nhanh chóng và hiệu quả khi giai đoạn 2000 – 2018 kim ngạch xuất nhập khẩu đã tăng hơn 13,6 lần. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, tình hình thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU đã và đang có xu hướng giảm.

Cụ thể, tính đến tháng 11/2019, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá vào thị trường EU đã giảm 1,26% so với cùng kỳ năm 2018. Thống kê kim ngạch một số mặt hàng xuất khẩu chính vào thị trường EU cũng cho thấy sự sụt giảm. Trong đó điện thoại và linh kiện giảm 16%, cà phê giảm 16,4%, thuỷ hải sản gần 13%. Dự kiến, trong năm 2019, xuất khẩu vào EU đạt khoảng 41,8 tỷ USD, giảm 3,6% so với năm 2018.

Ông Vũ Hoàng Linh – Vụ trưởng Vụ Thị trường Âu Mỹ (Bộ Công Thương) cho biết, một trong những nguyên nhân khiến cho kim ngạch sụt giảm là do xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam đã qua giai đoạn phát triển nóng.

Các mặt hàng nông sản như cà phê, hạt tiêu, hạt điều… chủ yếu là xuất khẩu thô bị tác động mạnh từ giá cả thế giới giảm mạnh do nguồn cung tăng. Nhóm hàng thủy sản cũng gặp khó khăn khi Việt Nam đang chịu tác động của việc bị EU rút thẻ vàng do chưa tuân thủ các quy định của Ủy ban Châu Âu.

Ngoài ra, việc sụt giảm kim ngạch mặt hàng máy tính, linh kiện điện tử cũng tác động đến kết quả xuất khẩu sang châu Âu. Việc sụt giảm này được lý giải là do phụ thuộc vào DN đầu tư nước ngoài, trong đó điển hình là việc Samsung kết thúc đợt đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm Galaxy Note 10 và mặt hàng máy tính bảng sang EU nên giá trị xuất khẩu mặt hàng này cũng bị giảm theo.

Một nguyên nhân khác nữa cũng được nhắc đến là có thể xuất hiện hiện tượng chững lại trước khi EVFTA có hiệu lực. Các DN có thể muốn “găm” hàng để hưởng lợi từ các cam kết trong EVFTA? Bởi theo một số nguồn tin, nhiều khả năng, EVFTA sẽ có hiệu lực trong nửa đầu năm 2020. Trong khi Việt Nam cũng đang có các biện pháp nhằm thúc đẩy thực thi EVFTA sớm hơn.

Chi phí logistics Việt Nam còn cao

Trong khi nhiều hiệp hội ngành hàng hưởng lợi từ các cam kết trong EVFTA như dệt may, da giày, nông thủy sản… đã có quỹ thời chuẩn bị hàng năm cho vấn đề chất lượng, mẫu mã, an toàn thực phẩm… để có thể đạt được những tiêu chuẩn khắt khe của EU, thì một vấn đề khá quan trọng, tác động mạnh đến giá trị kim ngạch xuất khẩu sang châu Âu, chính là logistics lại chưa được quan tâm đúng mức.

Vụ trưởng Linh cho biết, với EVFTA, dự kiến kim ngạch xuất khẩu sang các nước EU sẽ tăng mạnh trong thời gian tới, tác động tích cực đến triển vọng thị trường và phát triển của ngành logistics Việt Nam. Cơ hội rộng mở của giao dịch thương mại song phương giữa EU và Việt Nam có thể làm tăng nhu cầu vận chuyển không chỉ giữa EU và Việt Nam mà còn với cả EU và Đông Nam Á.

Đặc biệt, sau EVFTA, nhu cầu nâng cao chất lượng, điều kiện của kho bãi và công tác vận chuyển cũng sẽ được đặt ra, nhất là trong bối cảnh ngành logistics Việt Nam và châu Âu còn rất nhiều khoảng cách.

Theo điều tra năm 2018 của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đứng thứ 39/160 quốc gia tham gia về chỉ số năng lực logistics, đứng thứ 4 trong ASEAN (sau Singapore, Malaysia, Thái Lan). Từ năm 2017, Việt Nam cũng đã xác định mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm logistics của khu vực vào năm 2025. Chính sách này đã và đang được dần hiện thực hóa với rất nhiều nỗ lực như thu hút đầu tư nước ngoài, cải cách thủ tục hải quan và hợp tác với các đối tác nước ngoài trong các dự án cơ sở hạ tầng.

Tuy nhiên, đại diện nhiều DN logistics cho rằng, họ rất bị động trong kế hoạch phát triển bởi họ không nắm được quy hoạch cụ thể, ngoài ra còn chưa kể chi phí vận chuyển trong tổng cấu thành chi phí logistics khá cao.

Ông Nguyễn Tuấn Vinh – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty RATRACO cho biết nguyên nhân khiến cho chi phí vận chuyển cao là do kết nối hạ tầng yếu, kết nối phương tiện kém, vận tải đa phương thức cũng chưa phát triển, nhận thức của DN Việt Nam về các vấn đề liên quan đến logistics còn thấp…

Theo doanh nhân này, nếu có thể khắc phục được những hạn chế trên, đặc biệt là đầu tư cơ sở hạ tầng và tăng tính kết nối của phương tiện thì sẽ giảm chi phí vận tải, nâng cao được chất lượng dịch vụ logistics. Chỉ khi giảm được chi phí logistics thì mới có thể tận dụng tối đa các cam kết có lợi cho Việt Nam trong EVFTA, mới tăng được sức mạnh cho hàng hóa xuất khẩu.

Ngoài ra, hiện nay ở nhiều nước, Chính phủ rất tích cực trong việc hỗ trợ phát triển cho logistics như “chấp nhận chạy xe không sang các nước để đón hàng về” nên Việt Nam cũng cần có nhiều chính sách cụ thể hơn để giúp DN logistics nội có thể đứng vững được trước sức mạnh cạnh tranh cực lớn từ các DN logistics ở EU khi EVFTA chính thức có hiệu lực.

Theo Pháp luật .