Xuất khẩu nhiều mặt hàng chủ lực đã đến ngưỡng?

Bộ Công Thương vừa có báo cáo thống kê về xu hướng và tình hình xuất khẩu của nhiều mặt hàng chủ lực của Việt Nam. Theo báo cáo này, nhiều dấu hiệu đáng lo ngại với hàng xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới.

Nhiều dấu hiệu đáng lo ngại với hàng xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới

Nhiều dấu hiệu đáng lo ngại với hàng xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới

Đáng quan tâm nhất là xuất khẩu điện thoại các loại, mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 48,7 tỷ USD trong 11 tháng của năm 2019 đang có xu hướng tăng trưởng chậm lại.

Bên cạnh đó nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực vẫn đối diện với những khó khăn thách thức. Cụ thể, tính chung 11 tháng qua, kim ngạch xuất khẩu hàng nông lâm thủy sản của Việt Nam ước đạt 23,134 tỷ USD, giảm 5,2% so với cùng kỳ. Có tới 7/9 mặt hàng trong nhóm hàng xuất khẩu này có kim ngạch giảm so với cùng kỳ 2018. Trong đó, thủy sản giảm 2,3%, rau quả giảm 2,4%, cà phê giảm 22,2%, sắn và các sản phẩm từ sắn giảm 5,3%. Một số mặt hàng tăng về lượng nhưng giảm về kim ngạch do giá giảm như: Hạt điều, hạt tiêu, gạo.

Với mặt hàng thủy sản và nông sản, theo Bộ Công Thương, đến thời điểm hiện tại, EU chưa bỏ thẻ vàng đối với thủy sản Việt Nam, cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ trong xuất khẩu hàng hóa nông sản, thủy sản do ngày càng nhiều nước tham gia cung ứng nông sản trong khi cầu hạn chế. Kiểm soát vấn đề chất lượng cũng như truy xuất nguồn gốc, năng lực chế biến, bảo quản nông sản, công nghiệp phụ trợ đang là vấn đề cần được quan tâm mạnh mẽ. Trong khi đó, giá các mặt hàng nông, thủy sản đang trong xu hướng giảm.

Việc Việt Nam tăng nhanh và mạnh xuất khẩu sang Mỹ nhiều mặt hàng cũng được cảnh báo có thể kéo theo hệ lụy về việc tăng kiểm soát nhập khẩu từ Việt Nam.

Để gỡ khó cho xuất khẩu, Bộ Công Thương cho hay sẽ nghiên cứu các giải pháp, biện pháp phát triển xuất khẩu, nhập khẩu với từng thị trường quan trọng; tìm kiếm khả năng mở rộng các thị trường xuất khẩu mới còn tiềm năng đồng thời củng cố và mở rộng thị phần hàng hóa Việt Nam tại thị trường truyền thống, thị trường là đối tác FTA.

Theo Tiền Phong

Diễn đàn Logistics Việt Nam 2019 Logistics nâng cao giá trị nông sản

Trong hai ngày 22 và 23/11, tại TP. Đà Nẵng đã diễn ra Diễn đàn Logistics Việt Nam 2019. Tham dự có đồng chí Vương Đình Huệ, UV Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch UB Chỉ đạo Quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN, Cơ chế một cửa quốc gia và tạo thuận lợi thương mại; lãnh đạo Hiệp hội Doanh ngiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA); đại diện lãnh đạo các Bộ Công thương, NN-PTNT, GTVT, Tài chính, KH&CN; đại diện lãnh đạo Tp. Đà Nẵng, Hải Phòng và các tỉnh TTHuế, Cần Thơ, Bình Định, Quảng Ngãi. Ngoài ra còn có đại diện các quốc gia, tổ chức quốc tế.

Phiên thảo luận cấp cao của Diễn đàn

Phiên thảo luận cấp cao của Diễn đàn

Diễn đàn Logistics Việt Nam lần thứ 7 – 2019 đã diễn ra một chuỗi sự kiện bao gồm chương trình khảo sát cảng và Trung tâm Logistics Chu Lai, thăm nhà máy ô tô Trường Hải; hai hội thảo chuyên đề “Logistics kết nối hành lang kinh tế Đông – Tây” và “Kinh tế chia sẻ trong logistics”

Phiên toàn thể của Diễn đàn diễn ra vào sáng 23/11 với chủ đề Logistics nâng cao giá trị nông sản với hơn 1.000 lượt đại biểu từ các tập đoàn doanh nghiệp Việt Nam và quốc tế; hơn 50 chuyên gia quốc tế trên các lĩnh vực thuộc logistics.

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn

Theo Báo cáo của World Bank về Chỉ số hoạt động logistics (LPI), công bố ngày 24/7/2018, Việt Nam đứng thứ 39/160 nước tham gia nghiên cứu, tăng 25 bậc so với năm 2016 và vươn lên đứng thứ 3 trong các nước ASEAN. Việt Nam cũng là nước có xếp hạng ở tốp đầu trong các thị trường mới nổi. Đây là kết quả tốt nhất mà Việt Nam có được kể từ khi Word Bank thực hiện việc xếp hạng Chỉ số hoạt động logistics trong thập niên vừa qua.

Trong thời gian qua, ngành logistics có mức tăng trưởng cao 13% – 15%. Số lượng các doanh nghiệp vận tải và logistics hiện nay là khoảng 3.000 doanh nghiệp, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường biển, đường thủy nội địa, đường hàng không… Sự phát triển của ngành vận tải và logistics đồng thời đã tạo điều kiện để Việt Nam nhanh chóng trở thành một trung tâm sản xuất mới trong khu vực, có năng suất lao động cao và năng lực cạnh tranh tốt.

Với mục tiêu khơi thông dòng chảy logistics, Diễn đàn đã đề cập và bàn thảo các vấn đề chiến lược và thực tiễn của ngành logistics Việt Nam trong mối tương quan giữa bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế trước xu hướng phát triển kỹ thuật số. Diễn đàn đã tập trung phân tích và đề xuất các giải pháp phát triển logistics trên hành lang kinh tế Đông – Tây, các mô hình kinh tế chia xẻ và đặc biêt là hiến kế các biện pháp có tính đột phá và thực tiễn nhằm thúc đẩy logistics nâng cao giá trị nông sản.

Diễn đàn logistics Việt Nam 2019 cũng đặt mục tiêu tăng cường kết nối đa phương, kết nối những giá trị và nền tảng bền vững, nâng cao giá trị đóng góp của logistics trong GDP của cả nước cho những năm tới.

Diễn đàn Logistics Việt Nam được khởi xướng từ năm 2013, Bộ Công Thương và Thời báo Kinh tế Việt Nam đã phối hợp với các cơ quan có liên quan duy trì tổ chức thường niên trong suốt hành trình 7 năm liên tiếp và đã trở thành một diễn đàn cấp quốc gia kết nối quốc tế thể hiện mạnh mẽ tiếng nói cộng đồng doanh nghiệp và các địa phương trong hoạt động logistics.

Các bài phát biểu và tham luận trong Diễn đàn đều đề cập về thực trạng những vấn đề đặt ra cho việc phát triển hệ thống logistics, đáp ứng nhu cầu phát triển của chuỗi giá trị nông nghiệp; nêu các ý kiến và hiến kế của doanh nghiệp. Đặc biệt là phần thảo luận cấp cao.

Tại Diễn đàn, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh nhấn mạnh, thông qua Diễn đàn Logistics Việt Nam lần này, chúng tôi mong muốn các Hiệp hội, doanh nghiệp dịch vụ logistics cả nước đối thoại với các Bộ ngành, địa phương về các ý tưởng, biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ logistics, để logistics trở thành ngành mũi nhọn, hỗ trợ hiệu quả cho các ngành kinh tế khác, trước hết là hỗ trợ nâng cao giá trị nông sản Việt Nam; thúc đẩy kết nối phát triển logistics dọc các hành lanh kinh tế chính và giải pháp tận dụng hiệu quả mô hình kinh tế chia sẻ trong logistics để tiết kiệm nguồn lực, giảm chi phí logistics.

Ông Lê Duy Hiệp, Chủ tịch VLA phát biểu tại Diễn đàn

Ông Lê Duy Hiệp, Chủ tịch VLA phát biểu tại Diễn đàn

Chung quanh chủ đề Logistics nâng cao giá trị nông sản, tại Diễn đàn, ông Lê Duy Hiệp, Chủ tịch VLA cũng đã phát biểu nêu lên một số mặt còn yếu kém trong chuỗi cung ứng dịch vụ cho nông nghiệp, nhất là hệ thống thiết bị lạnh. Với kinh nghiệm tích lũy được từ thực tế và từ các diễn đàn khu vực ASEAN ông Lê Duy Hiệp cho rằng, chúng ta nên quan tâm tạo điều kiện trong việc đầu tư hoàn thiện cung ứng trong công nghệ logistics đối với chuỗi lạnh nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao giá trị cho nông sản.

Phát biểu chỉ đạo tại diễn đàn, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ đồng tình với phương hướng, nhiệm vụ công tác trong thời gian tới và các kiến nghị của Bộ Công Thương, Bộ NN-PTNT, Bộ GTVT, các ý kiến tại Diễn đàn để phát triển logistics. Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đề nghị các Bộ ngành cần xác định logistics ở trong thời gian tới sẽ là một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế, gắn dịch vụ logistics với phát triển sản xuất hàng hóa, xuất nhập khẩu và thương mại trong nước, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển nhanh, bền vững. Đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu cơ bản và dự báo chiến lược, vừa mang tính tổng thể vừa có chiều sâu, nhất là những diễn biến kinh tế – chính trị mới gần đây và làn sóng cách mạng công nghiệp 4.0; chỉ ra những nguyên nhân, dự báo chiều hướng phát triển, phân tích tác động tới khu vực cũng như nước ta, từ đó đề xuất với Chính phủ những chủ trương, quyết sách thích hợp, nhằm tận dụng những cơ hội, ứng phó với những khó khăn, thách thức mới. Đặc biệt chú trọng những nghiên cứu mang tính chiến lược tổng thể trong quan hệ với các nước ảnh hưởng trực tiếp tới nước ta và quan tâm thích đáng đến các vấn đề của khu vực, từ Tiểu vùng Mê Kông, ASEAN đến thế giới; tiếp tục thực hiện và mở rộng các quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với các nước trong khu vực. Cấp thiết nghiên cứu, xây dựng một Chiến lược tổng thể đi đôi với một Quy hoạch tổng thể phát triển ngành logistics của Việt Nam giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040. Kiện toàn tổ chức bộ máy của Ủy ban chỉ đạo quốc gia cùng với cơ chế phân cấp quản lý linh hoạt giữa Trung ương và địa phương; tiếp tục tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác logistics có đủ bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ giỏi, phẩm chất đạo đức đáp ứng với yêu cầu và nhiệm vụ mới trong thời gian tới. Đối với các Hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp của Việt Nam trong thời gian tới cần quán triệt quan điểm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm tăng thêm phần giá trị gia tăng của các sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu, tránh xuất khẩu các sản phẩm, hàng hóa sơ chế, có khối lượng lớn nhưng giá trị thấp gây ảnh hưởng đến chi phí vận tải.

Theo Vietnam Logistics review.

Hành chính một cửa, người dân, doanh nghiệp hưởng lợi

Khách hàng đến nhận giấy chứng nhận thẩm định thiết kế xe ô tô tại bộ phận một cửa Cục Đăng kiểm VN

Chưa ai phàn nàn về chất lượng phục vụ của bộ phận một cửa

Công tác cải cách hành chính được thực hiện đồng loạt ở các cơ quan, đơn vị trong từng lĩnh vực ngành GTVT trong thời gian qua.

Cuối tuần qua, PV Báo Giao thông trực tiếp có mặt tại khu vực tiếp nhận, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) theo cơ chế một cửa của cơ quan Cục Đăng kiểm VN (18 Phạm Hùng, Nam Từ Liêm, Hà Nội). Quan sát cho thấy, khu vực này được trang bị đầy đủ trang thiết bị phục vụ, có dãy ghế ngồi, cây nước uống và wifi miễn phí cho khách đến làm thủ tục.

Khi có khách hàng đến làm thủ tục, cán bộ tham gia bộ phận một cửa sẽ kiểm tra hồ sơ, hướng dẫn khách hàng. Nếu hồ sơ của khách hàng đầy đủ theo quy định sẽ được tiếp nhận, cán bộ một cửa sẽ nhập đầy đủ thông tin lên phần mềm một cửa điện tử của Bộ GTVT để quản lý. Trên phần mềm quản lý, mỗi hồ sơ được cấp một mã số quản lý để thuận tiện cho việc tra cứu trong suốt quá trình thực hiện. Khách hàng khi đến nhận kết quả giải quyết TTHC tại bộ phận một cửa, cán bộ thường trực chỉ mất khoảng 3-5 phút để hoàn tất công việc trả hồ sơ.

Ông Nguyễn Văn Tâm, nhân viên Công ty TNHH Đại Phát Tín đến nhận hồ sơ thẩm định thiết kế xe ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước bày tỏ: “Trước đây, chúng tôi phải trực tiếp đến phòng chuyên môn để làm thủ tục, lúc gặp nhân viên này, khi lại gặp nhân viên khác để giải quyết và cũng không biết khi nào hồ sơ sẽ giải quyết xong để đến lấy. Còn bây giờ, chỉ cần đến bộ phận một cửa để nộp, nhận kết quả và có thể tra trên máy tính là biết được hồ sơ đã được giải quyết xong chưa để đến lấy”.

Ông Phan Trung Nghĩa, Phó chánh văn phòng Cục Đăng kiểm VN cho biết, thực hiện chỉ đạo của Bộ GTVT, từ ngày 1/7/2019, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả TTHC của Cục Đăng kiểm VN chính thức đi vào hoạt động. Hiện, Cục Đăng kiểm VN có 24 thủ tục hành chính được tiếp nhận, trả kết quả hồ sơ theo hình thức một cửa, một cửa liên thông. Sau hơn 4 tháng thực hiện, đã tiếp nhận, xử lý hơn 1.100 hồ sơ.

“Ngoài cán bộ thường trực tại bộ phận một cửa, mỗi khi đông khách hàng, các phòng chuyên môn đều cử 1-2 cán bộ để hỗ trợ tiếp nhận và trả hồ sơ nên khách không phải chờ đợi lâu. Từ khi triển khai đến nay, chưa thấy cá nhân, doanh nghiệp nào phàn nàn về chất lượng phục vụ của bộ phận một cửa”, ông Nghĩa chia sẻ.

Khác với không khí sôi động, tấp nập ở bộ phận một cửa của Cục Đăng kiểm VN, tại khu vực bộ phận một cửa của Cục Đường sắt VN lại rất vắng vẻ. Lý giải hiện tượng trên, ông Trần Trường Giang, Chánh văn phòng Cục Đường sắt VN cho biết, đối với lĩnh vực đường sắt, hiện người dân, doanh nghiệp chủ yếu thực hiện các thủ tục qua mạng theo dịch vụ công trực tuyến cấp 3, cấp 4.

“Đối với dịch vụ một cửa, một cửa liên thông, họ có thể thực hiện qua mạng, gửi hồ sơ qua đường bưu điện hoặc trực tiếp đến Cục nộp hồ sơ tại bộ phận một cửa. Tuy nhiên, rất ít người đến trực tiếp Cục Đường sắt VN để nộp hồ sơ vì họ chủ yếu là làm qua mạng để đỡ mất thời gian đi lại”, ông Giang nói.

Liên quan đến các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, ông Vũ Quang Khôi, Cục trưởng Cục Đường sắt VN cho biết, kể từ ngày 1/7/2019, tất cả các hồ sơ có liên quan đến giải quyết thủ tục hành chính đều thực hiện theo quy định. Tính đến tháng 10/2019 đã có 245 hồ sơ từ các tổ chức đến làm thủ tục, 178 hồ sơ đã giải quyết đúng hạn, 15 hồ sơ đang giải quyết, 1 hồ sơ đang chờ kết quả, 1 hồ sơ từ chối giải quyết, 20 hồ sơ chờ hoàn thiện bổ sung, 30 hồ sơ chờ thanh toán phí.

Doanh nghiệp lợi lớn từ cải cách TTHC

Liên quan đến công tác cải cách TTHC tại lĩnh vực hàng hải, ông Trần Công Sáng, Trưởng phòng Pháp chế (Cục Hàng hải VN) cho biết, chỉ trong năm 2019, Cục Hàng hải VN đã rà soát 101 TTHC và đề nghị cắt giảm được 6 TTHC, đơn giản hóa 2 TTHC.

Trên cơ sở các TTHC được công bố, đến nay, Cục Hàng hải VN đã xây dựng lộ trình và triển khai cung cấp các dịch vụ công trực tuyến, gồm: 51 TTHC được cung cấp trực tuyến mức độ 2; 35 TTHC được cung cấp trực tuyến mức độ 3 và 9 TTHC về quản lý thuyền viên được cung cấp trực tuyến mức độ 4.

Cũng theo ông Sáng, với tính năng khai báo thông tin trên hồ sơ điện tử, các chủ tàu, hãng tàu cũng tiết kiệm được nhiều chi phí nhân sự và đi lại. Đặc biệt là tăng an toàn, an ninh cho người làm thủ tục vì không còn phải đem hồ sơ, giấy tờ bản chính theo bên mình. Trước đó, đã có không ít trường hợp người làm thủ tục bị cướp hồ sơ, giấy tờ, trong đó có cả hộ chiếu thuyền viên làm ảnh hưởng đến hoạt động khai thác của tàu do phải xin cấp lại toàn bộ hồ sơ.

Đánh giá về công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hàng hải, ông Phạm Hồng Mạnh, Trưởng hãng tàu T.S Lines (Hải Phòng) cho biết, việc “điện tử hóa” thủ tục tàu ra – vào cảng biển đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm được cả thời gian và chi phí.

“Cách đây khoảng 5 năm, trước khi cập cảng làm hàng, hãng tàu phải cử nhân viên mang hồ sơ chuyến hàng xin xác nhận của từng đơn vị, từ hải quan, cảng vụ hàng hải, kiểm dịch động vật, y tế… thời gian hoàn thành thủ tục phải mất gần hơn 8 tiếng. Trường hợp giấy tờ phải thay đổi thông tin, việc xin xác nhận của các cấp chức năng phải mất đến vài ngày. Đến nay, việc khai báo, kiểm duyệt được tích hợp trên Cổng Thông tin một cửa Quốc gia, thời gian làm thủ tục của hãng tàu chỉ mất từ 20 – 30 phút”, ông Mạnh nói và cho biết, theo tính toán, một ngày nằm chờ, tàu nhỏ mất khoảng 10.000 USD/ngày tiền thuê tàu, tàu cỡ lớn hơn có thể từ 20.000 – 30.000 USD/ngày.

“Thời gian làm thủ tục kéo dài càng lâu, chi phí thuê tàu càng lớn, chưa kể, việc chậm cập cảng làm hàng sẽ khiến tàu tiếp tục bị lỡ thời gian cập các cảng tiếp theo trên tuyến hành trình”, ông Mạnh nói và dẫn chứng, có những DN lớn như: Samsung, LG, Canon cần nguyên vật liệu sản xuất đúng thời gian vì hàng của họ là hàng linh kiện sản xuất điện tử, độ chính xác cực cao, nếu bị trễ, họ luôn nghĩ ra đủ mọi lý do khiếu kiện, buộc hãng tàu phải nộp tiền phạt.

Theo Báo Giao thông

Đẩy mạnh thực thi Hiệp định vận tải đa phương thức

Hiệp định khung ASEAN về Vận tải đa phương thức (AFAMT) được ký kết tháng từ 11/2005. Trải qua 14 năm, nhưng Hiệp định mới chỉ được 7 nước thành viên ASEAN phê chuẩn và việc thực hiện được tiến hành giữa các nước này. Hiện còn 3 nước chưa phê chuẩn là Brunei Darussalam, Malaysia và Singapore.

Yêu cầu về vận chuyển hàng hóa từ điểm đầu đến điểm cuối “end-to-end” thay cho cách vận chuyển “door-to-door” đã thúc đẩy vận tải đa phương thức (VTĐPT) phát triển, nhất là giữa các nước thành viên ASEAN. Vì vậy, các thành viên cần phải có một khung khổ pháp lý cho việc thúc đẩy thực hiện AFAMT. Từ ngày 26 – 29/8/2019, tại TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam, Ban Thư ký ASEAN và các chuyên gia 10 nước ASEAN đã thảo luận và nhất trí Kế hoạch Hành động khu vực thực hiện AFAMT từ 2020 – 2025. Bản dự thảo Kế hoạch này sẽ được Nhóm công tác ASEAN về tạo thuận lợi cho vận tải thông qua để trình lên Hội nghị Bộ trưởng Giao thông vận tải (GTVT) các nước ASEAN, họp vào tháng 11/2019 tại Hà Nội phê duyệt. Để thực hiện đầy đủ Hiệp định này, các nước ASEAN phải hoàn thiện công tác pháp lý, theo kế hoạch như sau:

1. Hoàn thành việc phê chuẩn Hiệp định: theo kế hoạch, Brunei Darussalam sẽ hoàn thành năm 2020; Malaysia năm 2021; Singapore năm 2020.

2. Tạo khung khổ pháp lý quốc gia cho VTĐPT: Các nước phải xây dựng và luật hóa AFAMT nhằm thực hiện Hiệp định: Từ nay đến năm 2020 – 2022, Brunei Darussalam, Cambodia, Lào, Malaysia, Philippine và Singapore sẽ hoàn thành việc xây dựng các văn bản pháp luật cụ thể điều chỉnh VTĐPT của mỗi quốc gia. Việc này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà cung cấp dịch vụ VTĐPT (Multimodal Transport Operator – MTO) ở các nước thành viên ASEAN khác kinh doanh trên các nước này.

Từ ngày 26 – 29/8/2019, tại TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam, Ban Thư ký ASEAN và các chuyên gia 10 nước ASEAN đã thảo luận và nhất trí Kế hoạch Hành động khu vực thực hiện AFAMT từ (2020 – 2025). Bản dự thảo Kế hoạch này sẽ được Nhóm công tác ASEAN về tạo thuận lợi cho vận tải thông qua để trình lên Hội nghị Bộ trưởng GTVT các nước ASEAN, họp vào tháng 11/2019 tại Hà Nội phê duyệt.

3. Dịch và công bố luật về VTĐPT: Từ nay đến năm 2020, các nước Indonesia và Thái Lan là những nước đã luật hóa Hiệp định VTĐPT phải dịch ra tiếng Anh các văn bản luật bằng quốc ngữ nước mình và công bố công khai nhằm tạo thuận lợi cho các nước thành viên trong việc tiến hành VTĐPT ở các nước đó.

4. Thành lập Cơ quan quốc gia có thẩm quyền tại mỗi nước ASEAN: Đây là nhà chức trách chịu trách nhiệm cấp Giấy đăng ký hoạt động của MTO. Ở Việt Nam hiện nay, Bộ GTVT cấp phép cho các MTO hoạt động. Ở Thái Lan là Cục hàng hải và hàng năm các MTO phải báo cáo đầy đủ với nhà chức trách cấp phép về số lượng hợp đồng ký kết và thực hiện cho việc vận chuyển container (FCL và LCL). Còn ở Singapore, hiện nay Hiệp hội Logistics Singapore tiến hành cấp phép hoạt động của các MTO. Muốn được cấp phép, doanh nghiệp phải là hội viên của Hiệp hội và hàng năm phải đóng phí hoạt động cho Hiệp hội. Việt Nam là nước thành viên đã hoàn thành 4 mục nêu trên đây. Bộ GTVT cho biết, trong tháng 10/2019, Bộ sẽ đăng công khai trên website của Bộ Danh sách các MTO được cấp phép hoạt động tại Việt Nam.

5. Tăng cường thể chế qua việc xây dựng Chương trình hỗ trợ khu vực để tiếp tục phát triển, giáo dục và nêu bật tầm quan trọng của VTĐPT. Trong thời gian tới ASEAN sẽ tổ chức các khóa đào tạo và tham quan thực tế ở các nước châu Âu phát triển VTĐPT, ngoài việc các nước thành viên tự tổ chức việc đào tạo. Ban Thư ký ASEAN cứ hai năm một lần sẽ tiến hành công bố các số liệu thống kê về VTĐPT trong khu vực.

6. Một trong những vấn đề được các nước thành viên ASEAN quan tâm trong việc phát triển VTĐPT là giải quyết chế độ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của các MTO. Dự kiến các nước thành viên Hiệp hội AFFA sẽ đưa ra thảo luận và thông nhất Chế độ bảo hiểm chung cho các thành viên của Hiệp hội tại Hội nghị lần thứ 29 của Hiệp hội (AGM-29) ở TP. HCM vào cuối tháng 11/2019.

Chương V, Điều 14, của AFAMT quy định về giới hạn trách nhiệm của MTO nêu rõ: “Trừ khi tính chất và giá trị của hàng hóa đã được người gửi hàng khai báo trước khi hàng hóa được người kinh doanh vận tải đa phương thức đảm trách chuyên chở và đã được ghi trong chứng từ VTĐPT, người kinh doanh VTĐPT sẽ không chịu trách nhiệm trong bất kỳ trường hợp nào về tổn thất hoặc hư hỏng đối với hàng hóa với số tiền tương đương vượt quá 666,67 SDR cho mỗi kiện hoặc đơn vị tính cước, hoặc 200 SDR cho mỗi ki-lô-gram trọng lượng cả bì của hàng hóa mất mát hoặc hư hỏng, cách tính nào cao hơn thì chọn… Bất kể các quy định của Điều 14 và 15, theo như hợp đồng quy định nếu, người kinh doanh VTĐPT không tiến hành việc chuyên chở hàng hóa bằng đường biển hoặc đường thủy nội địa, thì trách nhiệm bồi thường của người kinh doanh VTĐPT sẽ được giới hạn bởi số tiền không vượt quá 8,33 SDR cho một ki-lô-gam trọng lượng cả bì của hàng hóa mất mát hoặc hư hỏng”. (Theo bản dịch đăng trên trang website của Tổng cục Đường bộ Việt Nam).

Theo luật Việt Nam, các quy đinh về giới hạn trách nhiệm của MTO, tại Nghị định số 144/2018/NĐ-CP, ngày 16/10/2018 Sửa đổi, bổ sung các Nghị định về VTĐPT (Nghị định số 87/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về VTĐPT, đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 89/2011/NĐ-CP ngày 10/10/2011 của Chính phủ) đều phù hợp với các quy định trên đây của AFAMT.

Một khi các nước thành viên ASEAN thực hiện đầy đủ các quy đinh trong AFAMT thì việc kinh doanh VTĐPT của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics Việt Nam trong các nước ASEAN sẽ được thuận lợi, nhất là khi không còn đòi hỏi phải thực hiện thông qua các đại lý của nước sở tại, giúp cho việc giảm chi phí VTĐPT.

Theo Vietnam Logistics Review.

Tổng rà soát mặt hàng gửi kho ngoại quan có nguy cơ gian lận

Để tăng cường công tác quản lý, phòng chống vi phạm từ hoạt động gửi kho ngoại quan, Bộ Tài chính vừa có văn bản đề nghị UBND các tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu, Bình Phước, Long An, Tây Ninh, Quảng Trị rà soát tình hình, đánh giá mặt hàng có nguy cơ gian lận cao.

Công chức Hải quan Quảng Ninh thực hiện giám sát hàng hóa tại một kho ngoại quan trên địa bàn TP. Móng Cái - Ảnh: Q.H

Công chức Hải quan Quảng Ninh thực hiện giám sát hàng hóa tại một kho ngoại quan trên địa bàn TP. Móng Cái – Ảnh: Q.H

Đây sẽ là cơ sở để Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét chỉ đạo công tác quản lý hàng hóa gửi kho ngoại quan.

Cụ thể, Bộ Tài chính cho biết, theo quy định tại Điều 85 Nghị định 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018 của Chính phủ thì thẩm quyền quy định Danh mục hàng hóa nhập khẩu không được gửi kho ngoại quan do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Do đó, để có cơ sở báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đề nghị UBND các tỉnh rà soát, đánh giá hoạt động của loại hình hàng hóa gửi kho ngoại quan xuất qua các cửa khẩu biên giới trên địa bàn đối với các mặt hàng có nguy cơ lợi dụng hình thức gửi kho ngoại quan để gian lận thương mại, buôn lậu, thẩm lậu vào nội địa trên địa bàn quản lý; đồng thời nêu thực trạng, khó khăn, thuận lợi trong công tác quản lý hàng hóa gửi kho ngoại quan của các lực lượng chức năng tại cửa khẩu biên giới trên địa bàn quản lý.

Sau khi rà soát, đánh giá, xác định các mặt hàng gửi kho ngoại quan có nguy cơ lợi dụng loại hình này để gian lận thương mại, buôn lậu, thẩm lậu, đề nghị UBND các tỉnh có ý kiến để Bộ Tài chính tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định công bố Danh mục hàng hóa nhập khẩu không được gửi kho ngoại quan theo thẩm quyền.

Trước đó, tháng 7/2019, Cục Hải quan Quảng Ninh đã tham mưu UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo 389 tỉnh, đề xuất Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo 389 quốc gia và Bộ Công Thương xem xét, quyết định công bố tạm ngừng hoạt động kinh doanh TNTX, kho ngoại quan đối với mặt hàng thuốc lá điếu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

Cũng liên quan đến hoạt động quản lý kho ngoại quan, thời gian qua, để đảm bảo công tác quản lý hải quan, lãnh đạo Tổng cục Hải quan chỉ đạo cục hải quan các tỉnh, thành phố ngoài việc thực hiện đầy đủ các quy định, trình tự, thủ tục hải quan, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với loại hình gửi kho ngoại quan xuất đi nước ngoài qua các cửa khẩu biên giới đường bộ đảm bảo quản lý, giám sát hàng hóa xuyên suốt từ khi phương tiện vận chuyển đến kho, dỡ hàng từ phương tiện vận tải nhập vào lưu giữ tại kho ngoại quan cho đến khi xếp hàng lên phương tiện vận tải xuất khỏi kho ngoại quan và di chuyển ra khỏi khu vực giám sát hải quan để vận chuyển xuất khẩu ra nước ngoài.

Đồng thời rà soát, đánh giá tình hình hoạt động các kho ngoại quan trên địa bàn, đề xuất tạm dừng hoặc chấm dứt hoạt động các kho ngoại quan không đáp ứng đủ các điều kiện theo Nghị định 68/2016/NĐ-CP.

Theo Báo Hải quan

Doanh nghiệp tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa

Tự chứng nhận xuất xứ bản chất là cho phép nhà sản xuất, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu được tự khai báo hàng hóa thuộc sở hữu của mình, hoặc được ủy quyền khai báo hàng hóa và tự chịu trách nhiệm về xuất xứ hàng hóa. Bản thân nhà sản xuất phải hiểu rõ quy trình, xuất xứ và sản phẩm của họ hơn bất kỳ bên thứ ba nào, nên việc tự chứng nhận xuất là một xu thế tất yếu.

Doanh nghiệp tự chứng nhận xuất xứ sẽ là xu thế tất yếu

Doanh nghiệp tự chứng nhận xuất xứ sẽ là xu thế tất yếu

Trong Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) có quy định về việc tự chứng nhận xuất xứ vào Liên minh châu Âu – EU (hậu kiểm).Theo đó, bên cạnh cơ chế cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) truyền thống, hai bên thống nhất cho phép nhà xuất khẩu được tự chứng nhận xuất xứ.

Thay vì bên thứ ba cấp chứng nhận xuất xứ (Bộ Công Thương, VCCI hoặc các đơn vị được Bộ Công Thương ủy quyền), doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa sang EU phải tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa mới được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP).Đây là yêu cầu bắt buộc của EU đối với một số nước, trong đó có Việt Nam.

Hậu kiểm là xu thế chung của toàn cầu và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này. Hậu kiểm rút ngắn thời gian thông quan, còn việc kiểm tra sau thông quan có thể lên tới từ 5 đến 10 năm…

Theo thống kê của Bộ Công Thương, cả nước hiện có 2.700 doanh nghiệp đang xuất khẩu sang EU được hưởng ưu đãi GSP.

Thực tế hiện nay, phần lớn các DN tự chứng nhận xuất xứ là những DN lớn, còn lại những DN nhỏ do không đủ thông tin và nhân lực để tự thực hiện chứng nhận xuất xứ nên cần nhờ bên thứ ba. Với việc 95% DN nước ta là doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc bỏ hoàn toàn cơ chế cấp C/O vẫn cần khoảng thời gian không ngắn để thực hiện, cho đến khi các DN có đủ khả năng tự thực hiện chứng nhận xuất xứ.

Bản thân các DN Việt Nam cần cập nhật thông tin liên tục thông qua các khóa đào tạo về các quy định của FTA, cần tham vấn với các đơn vị tư vấn chuyên nghiệp để có thể thực hiện tự chứng nhận xuất xứ, từ đó chủ động hơn, tiết kiệm được thời gian, nhân lực và chi phí logistics.

Theo Thương trường

Thái Lan là thị trường nhập khẩu số 1 của Việt Nam tại Đông Nam Á

Theo thống kê từ Tổng cục Hải quan, Việt Nam nhập siêu từ thị trường Thái Lan gần 8 tỷ USD. Đây cũng là thị trường đứng đầu Đông Nam Á về trị giá nhập khẩu của Việt Nam.

Ô tô nguyên chiếc các loại là mặt hàng Thái Lan xuất khẩu nhiều nhất sang Việt Nam

Ô tô nguyên chiếc các loại là mặt hàng Thái Lan xuất khẩu nhiều nhất sang Việt Nam

Cụ thể, tổng kim ngạch nhập của Việt Nam từ thị trường Thái Lan là 7,9 tỷ USD. Trong đó, tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta đạt 12,85 tỷ USD, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm ngoái; tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 31,2 tỷ USD, tăng nhẹ 0,2%.

Như vậy, hết tháng 8, tổng kim ngạch nhập khẩu từ thị trường Thái Lan bằng 1/4 tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.

Nhóm hàng mà nước ta nhập khẩu nhiều nhất từ thị trường này là ô tô nguyên chiếc các loại với trị giá nhập khẩu là 1,14 tỷ USD. Như vậy, sau 8 tháng, nhóm hàng này chiếm 17% tổng kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này.

Trong tháng 8, ô tô nguyên chiếc các loại được đăng ký làm thủ tục hải quan nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ 5 thị trường chính là từ Thái Lan với 4.266 chiếc. Chính vì số lượng ô tô nhập khẩu quá nhiều từ thị trường này đã làm tăng mối lo ngại về sức cạnh tranh cho thị trường ô tô trong nước.

Ngoài ra, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đứng ở vị trí thứ hai với tổng trị giá nhập khẩu là 661,2 tỷ triệu USD. Còn hàng điện gia dụng và linh kiện chiếm vị trí thứ ba với trị giá nhập khẩu hết 8 tháng 2019 là 663,1 triệu USD.

Theo Thương trường

VLA tham gia nhiều hoạt động kết nối logistics tại Trung Quốc

Hội chợ Trung Quốc – ASEAN lần thứ 16 (CAEXPO 2019) và Hội nghị Thượng đỉnh Thương mại & Đầu tư Trung Quốc – ASEAN 2019 (CABIS 2019) đã diễn ra sáng ngày 21/9 tại tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) cùng đoàn Đại biểu của Liên đoàn giao nhận Đông Nam Á (AFFA) tham dự và có nhiều hoạt động kết nối tại sự kiện.

Đoàn đại biểu AFFA tham gia khai mạc CAEXPO 2019

Đoàn đại biểu AFFA tham gia khai mạc CAEXPO 2019

Chiều 21/9, ông Đào Trọng Khoa, Phó Chủ tịch Hiệp hội VLA đã tham gia Diễn đàn Cùng xây dựng Hành lang thương mại trên bộ – Đường biển Quốc tế mới nhằm chia sẻ cơ hội phát triển (Forum on Jointly Building the New International Land-Sea Trade Corridor to Share Development Opportunities) được tổ chức tại Grand Metropark Hotel.

Tại diễn đàn, phía Việt Nam đã trả lời nhiều câu hỏi mà đại biểu các nước đang quan tâm, qua đó cũng chia sẻ về cơ hội và tiềm năng của Hành lang thương mại trên đất liền quốc tế mới (Kết nối Trùng Khánh -Nam Ninh -Khâm Châu) đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu và logistics của Việt Nam. Đại diện VLA cũng chia sẻ về tình hình phát triển, các cơ hội và thách thức của ngành dịch vụ logistics Việt Nam, nhấn mạnh đến vai trò cửa ngõ của Việt Nam tại ASEAN, về tiềm năng kết nối các tuyến hành lang đường sắt, đường bộ và đường biển qua Hà Nội và cảng biển nước sâu Lạch Huyện.

Đại diện VLA chia sẻ tại diễn đàn

Đại diện VLA chia sẻ tại diễn đàn

Chiều ngày 22/9, Phó Chủ tịch VLA đã cùng Liên đoàn Giao nhận Đông Nam Á AFFA khánh thành văn phòng đại diện của Liên đoàn tại Trung tâm Logistics Quốc tế Singapore -Trung Quốc tại Nam Ninh (China Singapore Nanning International Logistics Park – CSILP) với sự chính kiến của ôngKoh Poh Koon, Bộ trưởng cấp cao về Thương Mại và Công nghiệp của Singapore.

Với việc thành lập văn phòng đại diện của AFFA tại Nam Ninh, VLA với tư cách là hiệp hội thành viên có thể cử người chuyên trách làm viêc tại văn phòng và được sự hỗ trợ của CSILP về các thủ tục liên quan. Khi đó, việc hỗ trợ về thông tin cho hội viên có quan tâm đến hoạt động vận tải xuyên biên giới, thương mại điện tử xuyên biên giới hoặc có quan tâm đến việc đầu tư vào Trung tâm logistics thông minh sẽ rất thuận tiện và dễ dàng.

Khánh thành văn phòng đại diện của AFFA tại CSILP

Khánh thành văn phòng đại diện của AFFA tại CSILP

Hội chợ CAEXPO và CABIS là hoạt động hợp tác đa phương giữa ASEAN và Trung Quốc được tổ chức thường niên qua nhiều năm, trong đó Trung Quốc đóng vai trò là nước chủ nhà đăng cai tổ chức. CAEXPO lần thứ 16 được tổ chức tại Nam Ninh, Trung Quốc từ ngày 21 – 24/9/2019. Tổng cộng 33 diễn đàn, hội nghị được tổ chức trong khuôn khổ của hội chợ đã cung cấp thông tin chính thức, đa dạng trong nhiều lĩnh vực trong đó có hợp tác và phát triển logistics và thương mại điện tử.

Việc tham gia hai sự kiện này đã thể hiện cụ thể vai trò của VLA và việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế và khu vực của Hiệp hội, tạo cơ hội mới cho hội viên trong việc tìm đối tác, mở rộng hoạt động kinh doanh.

Theo: Vietnam Logistics Review.

Xuất nhập khẩu đạt hơn 300 tỷ USD, xuất siêu tăng mạnh gần 3 tỷ USD

Tiếp đà khởi sắc trong tháng 7, nửa đầu tháng 8, hoạt động xuất nhập khẩu cả nước tiếp tục đạt kết quả ấn tượng, đặc biệt, mức thặng dư thương mại tính từ đầu năm được nâng lên gần 3 tỷ USD.

Tỷ trọng 3 nhóm hàng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước tính đến 15/8

Tỷ trọng 3 nhóm hàng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước tính đến 15/8

Thống kê sơ bộ vừa được Tổng cục Hải quan đưa ra chiều ngày 20/8 cho thấy, 15 ngày đầu tháng 8, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 11,947 tỷ USD.

Qua đó, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tính từ đầu năm đến 15/8 đạt 157,351 tỷ USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm 2018.

Trong 15 ngày đầu tháng này có 3 nhóm hàng xuất khẩu đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên gồm: Điện thoại và linh kiện đạt 2,85 tỷ USD; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 1,65 tỷ USD; dệt may đạt 1,5 tỷ USD.

Tính đến 15/8, 3 nhóm hàng trên tiếp tục dẫn đầu về quy mô kim ngạch với kết quả lần lượt là 30,33 tỷ USD, 20,2 tỷ USD và 19,9 tỷ USD.

Lũy kế từ đầu năm đến 15/8, tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam đạt 154,416 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm ngoái.Ở chiều nhập khẩu, 15 ngày đầu tháng, kim ngạch cả nước đạt 10,754 tỷ USD.

2 nhóm hàng nhập khẩu “tỷ USD” trong nửa đầu tháng 8 là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng.

Trong đó, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 2,5 tỷ USD, nâng kim ngạch từ đầu năm lên hơn 31 tỷ USD và là nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất cả nước.

Trong khi đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt các con số lần lượt là 1,53 tỷ USD và 22,3 tỷ USD.

Như vậy, tính từ đầu năm đến 15/8, quy mô kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt khoảng 311 tỷ USD, trong đó nước ta xuất siêu gần 3 tỷ USD.

Theo Báo Hải quan

6 tháng đầu năm 2019: 41 nghìn hồ sơ điện tử cho tàu biển được phê duyệt

6 tháng đầu năm 2019, lĩnh vực hàng hải tiếp nhận, phê duyệt 41 nghìn hồ sơ điện tử cho tàu biển, đạt tỉ lệ lên đến 92%.

Công tác giải quyết thủ tục hành chính bằng hồ sơ điện tử của ngành hàng hải giúp doanh nghiệp vừa tiết kiệm được thời gian, vừa tiết kiệm được khoản phí lớn trong thuê tàu khai thác

Công tác giải quyết thủ tục hành chính bằng hồ sơ điện tử của ngành hàng hải giúp doanh nghiệp vừa tiết kiệm được thời gian, vừa tiết kiệm được khoản phí lớn trong thuê tàu khai thác

Ông Nguyễn Đình Việt, Phó Cục trưởng Cục Hàng hải VN cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2019, đơn vị này phối hợp với Trung tâm CNTT (Bộ GTVT) và Tổng cục Hải quan tiếp tục thực hiện cơ chế một cửa quốc gia đối với 11 thủ tục hành chính (TTHC) lĩnh vực hàng hải tại 25 cảng vụ hàng hải (CVHH).

“Tổng số hồ sơ điện tử được 25 CVHH tiếp nhận, phê duyệt từ ngày 1/1 – 15/6/2019 là hơn 41 nghìn hồ sơ. Trong đó, có 39.863 hồ sơ được cấp phép điện tử – ký số, đạt tỷ lệ đạt 92% so với tổng số hồ sơ thực tế”, ông Việt nói.

Cũng theo ông Việt, thời gian qua, Cục Hàng hải phối hợp với Trung tâm CNTT (Bộ GTVT) xây dựng quy trình điện tử đối với các TTHC thực hiện trên bộ phận một cửa của cơ quan Cục Hàng hải VN, phục vụ xây dựng hệ thống thông tin điện tử một cửa của Bộ GTVT.

Được biết, Cục Hàng hải VN là một trong những đơn vị đi đầu trong tham gia thực hiện cơ chế một cửa quốc gia ngay từ giai đoạn 1 (năm 2014), mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho các doanh nghiệp và hãng tàu.

Ông Đào Quang Tùng, Giám đốc Chi nhánh CTCP Vận tải và thuê tàu Quảng Ninh cho biết, việc cơ quan quản lý Nhà nước tại cảng tập trung thực hiện TTHC cho tàu thuyền vào – rời cảng bằng thủ tục điện tử không chỉ rút ngắn được quỹ thời gian làm hồ sơ cho tàu vào làm hàng so với giai đoạn trước mà còn giúp DN tránh được những khoản “lộ phí đen” trong quá trình hoàn thiện giấy tờ cho tàu.

“Việc rút ngắn thời gian hoàn thiện giấy tờ từ vài ngày xuống 15 – 30 phút cũng giúp DN tiết kiệm được nhiều chi phí thuê tàu. Thông thường, một ngày nằm chờ, tàu nhỏ sẽ tốn 10.000USD tiền thuê tàu, tàu cỡ lớn hơn có thể từ 20.000 – 30.000USD. Vì vậy, nếu thủ tục đưa tàu vào cảng không được giải quyết nhanh chóng, chi phí hãng tàu phải chi trả trong việc thuê phương tiện sẽ phát sinh rất lớn”, ông Tùng chia sẻ.

Theo Báo Giao thông