Logistics Việt Nam nhìn lại để bước tới

Ngành logistics Việt Nam được hình thành trên cơ sở của nhiều lĩnh vực. Nếu tính từ ngày thành lập Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam (tiền thân của Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam – VLA) thì đến nay ngành logistics Việt Nam đã được 25 năm. Dù đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận song ngành logistics vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức cần giải quyết để hướng tới tương lai trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.

Bức tranh nhiều mảnh ghép

Trước hết phải khẳng định, logistics là một ngành kinh tế dịch vụ quan trọng mang tính hệ thống liên quan đế nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế khác nhau. Dù nó tương đối phát triển nhưng còn mới mẻ tại Việt Nam, kể cả đến khái niệm cũng còn nhiều cách gọi/hiểu khác nhau. Vì những lý do trên, cho đến thời điểm này, vẫn chưa có một nghiên cứu cụ thể đầy đủ nào về ngành logistics Việt Nam (ngoại trừ một vài nghiên cứu phục vụ đào tạo) và các con số cũng chỉ là ước tính.

Thuật ngữ Logistics được chính thức đề cập tại điều 233 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, trong đó nêu rõ: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.

Trên quan điểm học thuật, các nhà nghiên cứu đã đưa ra cách hiểu khác nhau nhưng tựu chung lại, logistics là hoạt động theo chuỗi dịch vụ từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Nó liên quan trực tiếp đến hoạt động vận tải, giao nhận, kho bãi, các thủ tục dịch vụ hành chính, tư vấn (hải quan, thuế, bảo hiểm…), xuất nhập khẩu – thương mại, kênh phân phối, bán lẻ… Trong lĩnh vực quản lý nhà nước, logistics liên quan đến nhiều bộ ngành như: Công Thương, Giao thông vận tải, Tài chính, Tư pháp, Công nghệ thông tin, Lao động…

Xét về mặt pháp lý, cho đến thời điểm này, quy định về kinh doanh dịch vụ logistics mới chỉ có Nghị định số 163/2017/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30.12.2017 (có hiệu lực từ ngày 20.2.2018), thay thế Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 5.9.2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics. Bên canh đó, còn lại nằm rải rác ở những văn bản Luật khác như: Bộ luật dân sự, Luật: doanh nghiệp, đầu tư, cạnh tranh, hải quan, giao thông đường bộ, đường sắt, giao thông thủy nội địa, hàng không dân dụng, hàng hải, bảo hiểm và các điều lệ, văn bản hướng dẫn thi hành.

Về hiệp hội chuyên ngành liên quan đến dịch vụ logistics cũng còn khá nhiều, chưa có sự thống nhất hoặc sự liên kết chặt chẽ dẫn đến hiệu quả hoạt động đôi khi còn hạn chế.

Xu hướng lĩnh vực logistics từ vai trò của một ngành phục vụ, đang trở thành sự kết nối xuyên suốt và quyết định năng lực cạnh tranh của một nền kinh tế, đang đặt ra những yêu cầu thay đổi toàn diện về phương pháp và nguồn lực để thúc đẩy sự đổi mới của lĩnh vực logistics ở mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Những thành quả

Trên cơ sở nghiên cứu và hiểu biết của người viết, ở góc độ kinh tế, dịch vụ logistics với nghĩa “hậu cần”, “giao nhận hàng hóa” ở Việt Nam đã hình thành khá lâu và có đóng góp quan trọng cho nền kinh tế. Cùng với quá trình mở cửa từ năm 1994 đến nay, đặc biệt sau khi Việt Nam tham gia WTO năm 2007, tốc độ tăng trưởng của ngành logistics nói chung luôn duy trì ở mức cao với 2 con số.

Hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ, cảng hàng không, cảng biển, kho bãi, hạ tầng thương mại, trung tâm logistics không ngừng được mở rộng với quy mô lớn, rộng khắp. Cùng với đó, các dịch vụ đi kèm đã và đang đáp ứng kịp thời những yêu cầu hết sức đa dạng của thị trường. Các cải cách về thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh ở tất cả các lĩnh vực đã được đẩy mạnh; môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi; các kết quả từ hợp tác kinh tế quốc tế… đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy xuất khẩu; hình thành nên các chuỗi cung ứng logistics toàn diện, đa dạng và ngày càng chuyên sâu hơn, góp phần quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế.

Cụ thể, theo báo cáo chuyên ngành logistics của Bộ Công Thương, đến cuối năm 2017, cả nước đã có 13 tuyến đường cao tốc, 146 tuyến đường quốc lộ chính với tổng chiều dài là 23.816km; 3.161km đường sắt; 44 cảng biển; 42 tuyến luồng hàng hải công cộng vào cảng quốc gia với tổng chiều dài là 935,9km và 10 luồng vào cảng chuyên dùng có khả năng tiếp nhận tàu hàng rời đến 200.000 DWT; 45 tuyến đường thủy nội địa quốc gia với tổng chiều dài khoảng 7.075km; 21 cảng hàng không đang khai thác. Lượng hàng hóa luân chuyển ngày càng tăng.

Theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), tốc độ phát triển của ngành logistics tại Việt Nam những năm gần đây đạt khoảng 14% – 16%, có quy mô khoảng 40 – 42 tỷ USD/năm. Tham gia thị trường logistics gồm có khoảng 3.000 doanh nghiệp nội và còn khoảng có 25 tập đoàn giao nhận hàng đầu thế giới kinh doanh dưới nhiều hình thức.

Các thủ tục, thời gian thông quan đối với hàng xuất khẩu cũng đã cải thiện đáng kể. Năm 2017 thời gian thông quan hàng xuất khẩu là 105 giờ, hàng nhập khẩu là 132 giờ. Việt Nam cũng đang đứng thứ 39/160 nước về chỉ số hoạt động logistics và đứng thứ 3 trong ASEAN chỉ sau Singapore và Thái Lan.

Bức tranh ngành dịch vụ logistics Việt Nam được ghép từ nhiều mảnh ghép khác nhau. Dù đã có đóng góp quan trọng cho nền kinh tế song đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại để hướng tới.

Triển vọng và định hướng

Mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng đến nay năng lực cạnh tranh của ngành logistics Việt Nam vẫn còn hạn chế bởi cơ sở hạ tầng cả phần cứng và phần mềm cũng như công nghệ quản lý và môi trường chính sách, quy mô và năng lực của doanh nghiệp, nguồn nhân lực… vẫn cần được đẩy mạnh hơn nữa để bắt kịp trình độ phát triển của các nước đối tác và đối thủ cạnh tranh trong khu vực.

Theo dự báo, quy mô thị trường logistics toàn cầu sẽ tăng trưởng trung bình khoảng 6,54%/năm trong giai đoạn năm 2017 – 2020, và đạt 15,5 nghìn tỷ USD vào năm 2024, gần gấp đôi so với mức 8,2 nghìn tỷ USD vào năm 2016. Đặc biệt, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng 4.0, các xu hướng, công nghệ mới hình thành và phát triển hay thương mại điện tử đang và sẽ là nhân tố dẫn dắt chính sự phát triển của logistics toàn cầu trong thời gian tới với mức tăng trưởng cao, nhất là ở các nước châu Á.

Điều đáng mừng cho logistics Việt Nam là đã được Chính phủ, các bộ ngành và địa phương quan tâm, công tác truyền thông tiếp tục được đẩy mạnh. Cho đến nay, khung pháp lý và chính sách liên quan đến logistics đang dần hoàn thiện. Chúng ta cũng đã có quy hoạch, xây dựng kế hoạch hành động trong Quyết định số 200/QĐ-TTg với 60 nhiệm vụ thuộc 6 nhóm, bao gồm: Hoàn thiện chính sách, pháp luật về dịch vụ logistics; Hoàn thiện kết cấu hạ tầng logistics; Nâng cao năng lực doanh nghiệp và chất lượng dịch vụ; Phát triển thị trường dịch vụ logistics; Đào tạo, nâng cao nhận thức và chất lượng nguồn nhân lực; và các nhiệm vụ khác. Trong đó, Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải, Hiệp hội VLA là những đơn vị được giao chủ trì nhiều nhiệm vụ nhất.

Mục tiêu của kế hoạch trên là đến năm 2025, tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào GDP đạt 8% – 10%, tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt 15% – 20%, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 50% – 60%, chi phí logistics giảm xuống tương đương 16% – 20% GDP, xếp hạng theo chỉ số năng lực quốc gia về logistics (LPI) trên thế giới đạt từ 50 trở lên.

Các chuyên gia cho rằng để đạt được kế hoạch đề ra, các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội, doanh nghiệp, địa phương cần tập trung triển khai đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ nêu trong Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ: Đẩy mạnh cải cách hành chính, cắt bỏ hoặc đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến logistics, đặc biệt là thủ tục kiểm tra chuyên ngành; Đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình hạ tầng logistics trọng điểm; Lồng ghép các hoạt động hội nhập và hợp tác trong khu vực với việc mở cửa thị trường, tiếp cận nguồn hàng từ các nước láng giềng, đồng thời với việc nâng cao chất lượng và chuẩn hóa dịch vụ logistics; Mở rộng mạng lưới đào tạo về logistics, đẩy mạnh tuyên truyền về logistics cho các cấp, các ngành và các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh; Tiếp tục hoàn thiện khung thể chế và bộ máy quản lý nhà nước hỗ trợ logistics phát triển; Đa dạng hóa nguồn vốn phát triển hạ tầng logistics dưới các hình thức khác nhau; Tăng cường liên kết để cùng phát triển, tạo dựng thương hiệu logistics Việt Nam.

Theo: Vietnam Logistics Review.

Hải quan Bình Định gỡ vướng cho gần 150 doanh nghiệp

Sáng ngày 08.11.2018, Cục Hải quan Bình Định đã tổ chức Hội nghị đối thoại Hải quan – Doanh nghiệp lần thứ 2 năm 2018 nhằm giải đáp, tháo gỡ cho gần 150 doanh nghiệp XNK trên địa bàn 2 tỉnh Bình Định và Phú Yên.

Tham dự hội nghị có đại diện lãnh đạo Cục Hải quan Bình Định, Cục Thuế Bình Định, Sở Công Thương Bình Định, Chi cục kiểm dịch thực vật vùng 4, Kho bạc Nhà Nước tỉnh Bình Định và nhiều ngân hàng thương mại cùng hơn 150 đơn vị là doanh nghiệp (DN) trong lĩnh vực Xuất nhập khẩu, vận tải trên 2 địa bàn tỉnh Phú Yên và Bình Định.

Cục trưởng Cục Hải quan Bình Định Nguyễn Văn Đông giải đáp vướng mắc cho doanh nghiệpCục trưởng Cục Hải quan Bình Định Nguyễn Văn Đông giải đáp vướng mắc cho doanh nghiệp

Tại hội nghị, Cục Hải quan Bình Định đã giải đáp thắc mắc của các DN xung quanh các thủ tục hành chính và việc thực hiện theo Nghị định 59/2018/NĐ – CP ngày 20/4/2018 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2015/NĐ – CP ngày 21/01/2015, và Thông tư số 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ Tài chính. Bên cạnh đó, Cục Hải quan Bình Định còn triển khai rộng rãi Hệ thống giám sát tự động đã được triển khai thành công tại cảng Quy Nhơn trên cả 2 địa bàn Phú Yên và Bình Định.

Cũng trong hội nghị, đại diện Cục Thuế Bình Định và các ngân hàng thương mại đã hướng dẫn, giải đáp thêm một số nội dung liên quan đến chính sách thuế nội địa, đồng thời khuyến khích các DN thực hiện nộp thuế điện tử qua ngân hàng phối hợp thu và thông quan 24/7.

Ông Nguyễn Văn Đông – Cục trưởng Cục Hải quan Bình Định, đã đánh giá cao tinh thần hợp tác của các DN, báo cáo cho Tổng cục Hải quan những ý kiến, kiến nghị của DN để xem xét giải quyết, phản hồi theo đúng quy định. Cùng với đó, Cục Hải quan Bình Định cũng sẽ tăng cường các kênh thông tin để DN kịp thời cập nhật và áp dụng chính sách, quy định mới liên quan đến hoạt động hải quan; góp phần tiết kiệm được chi phí và hạn chế được rủi ro.

Theo: Vietnam Logistics Review.

Nhiều Doanh nghiệp vận tải TP HCM khó khăn, giải thể vì giá nhiên liệu và phí, thuế

Từ đầu năm đến nay, giá nhiên liệu liên tục tăng cao, khiến doanh nghiệp vận tải hàng hóa tại TPHCM gặp khó, nhiều doanh nghiệp phải giải thể.

Theo ông Lâm Đại Vinh, chủ một doanh nghiệp vận tải lớn, doanh nghiệp của ông đang phải “co mình lại”, hoạt động cầm chừng và chỉ mong không lỗ để duy trì hoạt động. Ngoài vận chuyển thì doanh nghiệp đang mở rộng ra các lĩnh vực khác, như: Cung cấp dịch vụ, cho thuê xe…

Theo lý giải của doanh nghiệp này, khoảng 3 năm gần đây giá dầu tăng cao, từ mức 12.000 đồng/lít nay tăng lên 18.000 đồng/lít (chênh nhau 6.000 đồng), dẫn đến chi phí cho một chuyến xe tăng lên.

Trong khi đó, giá dịch vụ lại không đổi, thậm chí còn giảm so với thời điểm 3 năm trước, dẫn đến doanh nghiệp phần lớn làm ăn không có lãi, thậm chí là lỗ. Thêm nữa nhiều khoản phí liên tục tăng cao như: phí cầu đường, phí bảo trì đường bộ, xin giấy phép, đầu tư thiết bị giám sát hành trình, ra đường thì kẹt xe, ùn tắc dẫn tới thời gian hoạt động ngoài đường giảm từ 10 giờ/ngày xuống còn 4-5 giờ/ngày.

Xe phải dừng đỗ trên đường vì kẹt xe dẫn đến chi phí kéo dài, chi phí cho nhiên liệu trên một chuyến đi thường chiếm 30-40% tổng chi phí nhưng hiện nay con số này có thể vượt qua mốc 40%. Xe nằm bãi cũng phải tốn nhiều chi phí bảo trì… Ngoài ra, việc các cơ quan chức năng thường xuyên thay đổi quy định về thông số kỹ thuật của container, thùng hàng… dẫn đến nhiều doanh nghiệp lao đao vì phải chạy theo để thay đổi.

Doanh nghiệp vận tải mong các cơ quan nhà nước có biện pháp để ổn định hoạt động.Doanh nghiệp vận tải mong các cơ quan nhà nước có biện pháp để ổn định hoạt động.

“Hiện nay, doanh nghiệp đang thu hẹp quy mô sản xuất, không mở rộng. Mục tiêu của doanh nghiệp là hòa vốn, duy trì được bộ máy và tìm ngành nghề khác để hoạt động. Các doanh nghiệp vận tải đang có xu hướng như vậy, người thì mua bất động sản, cho thuê, chứng khoán, mở quán ăn… Nói chung dịch vụ vận tải đang gặp nhiều khó khăn”, ông Vinh nói.

“Hiện giờ giá xăng dầu tăng như vậy nhưng giá cước vận chuyển lại không tăng, BOT giữ nguyên hoặc tăng lên là bất hợp lí. Một chuyến hàng từ Cát Lái đi Cái Mép – Thị Vải chỉ khoảng 3 triệu mà phí cầu đường đã 600-700.000 đồng, thêm nữa, giá cước xăng dầu tăng cao như vậy thì doanh nghiệp vận tải bị lỗ. Loại hình container như vậy rất khó khăn nên nhà nước cần có chính sách hỗ trợ”, ông Đỗ Xuân Phú cho biết..Ông Đỗ Xuân Phú, Giám đốc Công ty Minh Liên cũng ngao ngán khi nói đến hoạt động kinh doanh vận tải hiện nay. Ngoài vấn đề chung về chi phí giá nhiên liệu tăng cao trong khi giá dịch vụ lại đi xuống, các doanh nghiệp vận tải container tại TP. HCM còn gặp nhiều khó khăn về bến bãi đậu xe, các loại cước phí cầu đường quá cao áp lên đầu doanh nghiệp vận tải khiến họ “không thở nổi”. Các doanh nghiệp kinh doanh vận tải đã nhiều lần kiến nghị về việc giảm phí, thuế, và ổn định giá nhiên liệu nhưng chưa được giải quyết thấu đáo.

Theo Hiệp hội Vận tải hàng hóa TP. HCM, hiện nay các doanh nghiệp vận tải trên địa bàn đang gặp rất nhiều khó khăn. Con số từ chỗ vài trăm doanh nghiệp tham gia hiệp hội trước kia đã giảm còn khoảng 100 doanh nghiệp. Phần lớn các doanh nghiệp phải giảm quy mô hoạt động xuống còn một nửa, hoặc chuyển đổi sang loại hình khác. Trong đó, vẫn còn nhiều doanh nghiệp đang “đi vào ngõ cụt” bởi nợ ngân hàng, hoạt động thì không lời nhưng vẫn phải duy trì vì đã trót lỡ vay tiền ngân hàng đầu tư, giờ bán phương tiện cũng không ai mua hoặc có mua thì giá phương tiện cũng chỉ còn 1/3 so với trước, cá biệt có phương tiện chỉ định giá với mức bán phế liệu.

So với lần điều chỉnh giá nhiên liệu từ đầu năm, hiện nay, giá nhiên liệu đang có độ chênh tới gần 3.000 đồng, gây khó cho doanh nghiệp. Vì vậy, ông Nguyễn Văn Chánh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Vận tải hàng hóa TPHCM đề nghị Nhà nước cần phải có biện pháp để giúp các doanh nghiệp chủ động hơn trong việc thương thảo, đảm bảo hoạt động: “Giá nhiên liệu tăng nhưng cước vận tải không tăng nên doanh nghiệp cũng bức xúc. Mong rằng thời gian tới, Nhà nước sẽ ổn định giá nhiên liệu, nếu có biến động thì dùng quỹ bình ổn và các hình thức khác để ổn định nhiên liệu”.

Thực tế của các doanh nghiệp vận tải hiện nay cho thấy, đây là hậu quả của việc phát triển rầm rộ của ngành vận tải những năm trước đó khi cung vượt quá cầu. Vì vậy, rất cần sự hỗ trợ can thiệp của các cơ quan quản lý để doanh nghiệp vận tải có thể vượt qua khó khăn, tiếp tục duy trì hoạt động, đóng góp nhiều cho nền kinh tế./.

Theo  Hà Khánh VOV

Sôi động, hứng khởi với Vietnam Young Logistics Talents 2018

Được tạo ra với mục đích trở thành một sân chơi thiết thực dành cho sinh viên có niềm đam mê logistics và nâng cao nhận thức của giới trẻ về tầm quan trọng của ngành, cuộc thi “Vietnam Young Logistics Talents 2018”, do Bộ Công thương phối hợp cùng Mạng lưới đào tạo Logistics Việt Nam tổ chức, đang thu hút sự quan tâm của hàng chục ngàn sinh viên trên khắp cả nước. Nếu bạn là một sinh viên đam mê với Logistics đang tìm kiếm cơ hội tiếp cận với thực tế và khẳng định bản thân thì cuộc thi “Vietnam Young Logistics Talents 2018” chính là một lựa chọn thích hợp dành cho bạn.

Vietnam Young Logistics Talents 2018 – Bắt đầu từ ngày hội “Information Day”

Ngay từ những ngày đầu tiên, khi lễ phát động được tổ chức, cuộc thi đã thu hút sự tham gia của nhiều doanh nghiệp trong ngành, các thầy cô giáo và đông đảo các bạn sinh viên đến từ các trường đại học, cao đẳng ở cả 2 điểm cầu là Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh. Tại đây, chương trình đón nhận sự trao đổi thẳng thắn giữa doanh nghiệp và sinh viên về nhu cầu nhân lực và định hướng nghề nghiệp trong ngành logistics; đồng thời, giải đáp những thắc mắc của thí sinh về thông tin của cuộc thi.

Vòng thi Test online – Với nhiều sự bất ngờ

Logistics là một ngành mới nổi trong vài năm trở lại đây tại Việt Nam và cũng là lần đầu tiên, một cuộc thi về logistic được tổ chức với quy mô toàn quốc. Nhưng chỉ trong vòng 1 tuần mở cổng thi vòng loại trực tuyến (8/9 -16/9/2018), hệ thống của cuộc thi đã ghi nhận sự tham gia của hàng trăm nhóm thí sinh đến từ 28 trường Đại học, Cao đẳng trên cả nước với gần 1000 lượt thi. Thứ hạng của các đội thi đã liên tục thay đổi và bất ngờ hơn nữa, các đội tham gia còn là từ những trường chưa hề có hoạt động đào tạo về logistics. Điều này chứng tỏ sự quan tâm rất lớn từ phía cộng đồng sinh viên Việt Nam đối với lĩnh vực này.

Chung kết cấp trường – “vỡ òa” khi được trở thành đại diện duy nhất đi vào vòng trong

Vòng thi chung kết cấp trường đã chứng kiến rất nhiều niềm vui, sự phấn khích của các nhóm thí sinh khi trải qua rất nhiều phần thi kịch tính và cuối cùng, được trở thành đại diện duy nhất của trường mình tham dự Vòng Bán kết khu vực cuộc thi “ Vietnam Young Logistics Talents 2018”. Và chắc chắn, không thể không nhắc đến Vòng chung kết của Đại học Giao thông Vận tải (Hà Nội) và Đêm chung kết của trường Đại học Ngoại thương (Cơ sở 1), vượt qua hơn 40 đội tham dự, những cái tên sáng giá đã được ghi danh.

Liệu cái tên nào sẽ tỏa sáng trong vòng thi Bán kết khu vực sắp tới?

Vào ngày 27/09 tới đây, tại cả hai thành phố lớn là Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh sẽ chính thức diễn ra Vòng thi Bán kết khu vực cuộc thi “Vietnam Young Logistics Talents 2018”. Sẽ có những đội được đi tiếp nhưng cũng có những cái tên sẽ dừng lại. Dù vậy, điều giá trị nhất mà các bạn sinh viên nhận được qua cuộc thi này, có lẽ là cơ hội được trau dồi kiến thức từ bạn bè, thầy cô và quan trọng hơn, đó là được học hỏi từ chính những người đi trước, những anh chị đã có nhiều kinh nghiệm “chinh chiến thực tế “ trong ngành.

Cùng chờ đón Vòng thi bán kết khu vực, “Tài năng trẻ Logistics Việt Nam 2018” chắc chắn sẽ có nhiều bất ngờ kịch tính dành cho cuối tuần của bạn. Cuộc thi cũng gửi lời cảm ơn đến các doanh nghiệp: Tập đoàn U&I Logistics, Hãng hàng không Vietjet, Công ty cổ phần Bee Logistics, Công ty KSE High-Tech, Công ty Delta International, Công ty Vitranimex, Công ty CP Biển Đông, Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam, Công ty Uni-Depot, Khu CX Tân Thuận, Công ty S&F Express, Công ty cổ phần vận tải và thương mại đường sắt Ratraco đã đồng hành và ủng hộ cuộc thi trong suốt thời gian vừa qua.

Theo: Vietnam Logistics Review

Tháo gỡ rào cản, tìm giải pháp thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Nhiều rào cản, vướng mắc… và những giải pháp để phát triển kinh tế tư nhân được đưa ra thảo luận thẳng thắn trong buổi tọa đàm Phát triển kinh tế tư nhân: Rào cản và giải pháp, do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức vào sáng 5.10.2018, tại Hà Nội.

Tham dự buổi tọa đàm có Lãnh đạo Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài (VAFIE); Lãnh đạo một số doanh nghiệp tiêu biểu; Lãnh đạo một số bộ, ngành; chuyên gia kinh tế, chuyên gia xã hội học và đông đảo cơ quan thông tấn báo chí.

Các ý kiến của đại biểu đã chỉ ra những khó khăn vướng mắc và đồng thời đề ra những giải pháp cải thiện môi trường đầu tư đồng thời góp phần thay đổi cách nhìn nhận thiếu tích cực của một bộ phận công chúng và dư luận xã hội đối với giới doanh nghiệp trong nước.

Nói những rào cản đối với việc phát triển kinh tế tư nhân, ông Trần Văn Thế, Phó Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Đèo Cả, cho rằng: “Thời gian qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách tạo điều kiện cho nhà đầu tư phát triển hạ tầng giao thông. Tuy nhiên, khi triển khai công việc, chúng tôi vẫn gặp khá nhiều vướng mắc. Rào cản lớn nhất hiện nay đến từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Là doanh nghiệp BOT lớn nhất Việt Nam hiện nay, nhưng trong quá trình đàm phán làm việc, chúng tôi chưa được đối xử bình đẳng. Khung pháp lý có rất nhiều bất cập, điển hình là xung đột giữa Luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư”. Ông Thế lấy ví dụ, trong vòng hơn 1 năm nhưng thông tư Bộ Tài chính ban hành tới 4 lần. Cuối cùng, thông tư lại quay về cái đã được quy định trước đó khiến doanh nghiệp gặp khó.

Một khó khăn khác phát sinh từ thực tế hoạt động của doanh nghiệp mình, ông Thế chỉ ra: “Cứ một người dân đi qua trạm BOT lại yêu cầu cung cấp hợp đồng BOT, mỗi ngày hàng chục nghìn chủ phương tiện đi qua, chúng tôi không thể giải trình cho từng người như vậy. Thêm vào đó, một bộ phận truyền thông chưa phản ánh đúng bản chất doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hạ tầng giao thông do chưa thấu hiểu những khó khăn của nhà đầu tư. Họ thường nhìn nhận vấn đề phát sinh từ góc nhìn tiêu cực, làm nghiêm trọng tình tình”.

Nói về vấn đề tài chính ông Trần Văn Thế kiến nghị, cần tăng quy mô của các ngân hàng, bởi hiện nay ngân hàng quá nhiều nhưng quy mô quá nhỏ. Bên cạnh đó, một số ngân hàng đồng hành với nhà đầu tư khi nhận ra tiềm năng lợi ích, tuy nhiên lại thiếu hợp tác khi gặp vướng mắc.
Đồng cảm với những khó khăn của doanh nghiệp trong nước đang phải đối mặt, TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương nhận định, doanh nghiệp đang hoạt động trong môi trường kinh doanh bên cạnh các rủi ro thông thường còn phải đối mặt rủi ro pháp lý. Điều này đến từ hệ thống pháp luật chưa cụ thể, rõ ràng, minh bạch, với sự áp dụng tùy ý, tùy tiện, doanh nghiệp không thể tính toán được lâu dài, cách tốt nhất là họ làm nhỏ và không lớn, không chính thức.

TS. Nguyễn Đình Cung còn cho rằng, phải đánh giá lại vai trò của kinh tế tư nhân về mặt kinh tế. Các con số thống kê đánh giá khu vực này đóng góp 9% GDP, con số này kéo dài từ khi có Luật doanh nghiệp đến hiện tại. Năm 2000, yếu tố này chỉ tăng 1 điểm % GDP. Ông Cung nghi ngờ sự xác thực con số này.

Ở khía cạnh quản lý nhà nước, TS. Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội nhận định, vẫn còn có sự phân biệt trong nhận thức dẫn tới phân biệt trong đối xử giữa kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác.

“Mục tiêu của chúng ta từ nay đến năm 2030 là xóa dần ranh giới doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước, chỉ còn doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài. Lúc đó, Nhà nước trở thành Nhà nước kiến tạo, Nhà nước phục vụ, Nhà nước không quản lý trực tiếp doanh nghiệp. Mô hình Nhà nước của chúng ta sẽ linh hoạt hơn, nhường quyền quyết định về kinh tế vi mô cho doanh nghiệp để có những phản ứng kịp thời, hợp lý hơn với những diễn biến của kinh tế trong nước và quốc tế, chứ không phải bằng các quyết định hành chính”, TS. Nguyễn Đức Kiên nói.

Theo: Vietnam Logistics Review

Ngành dệt may Việt Nam: Giảm chi phí logistics, tăng sức cạnh tranh

Hiện nay, sản phẩm dệt may của Việt Nam đang phải chịu chi phí đầu vào cao hơn một số nước trong khu vực, với nhiều lý do khác nhau. Song chi phí logistics trong ngành cũng là nguyên nhân đẩy giá  sản phẩm của ngành lên cao..

Dần được chú trọng  trong quản lý

Ngành dệt may của Việt Nam nằm trong nhóm có giá trị xuất nhập khẩu (XNK) rất lớn. Theo thống kê của Hiệp hội Dệt may Việt Nam, trong năm 2017 sản phẩm XNK hàng dệt may đạt 31 tỷ USD, tăng 10,23% so với năm trước. Trong đó, chi phí cho hoạt động logistics chiếm 9,1% ước tính khoảng 2,7 tỷ USD, cao hơn các nước trong khu vực có cùng ngành nghề. Với mức chi phí cho logistics cao đã làm giảm giá trị cạnh tranh ngành dệt may của Việt Nam so với các nước trong khu vực.

Trong khuôn khổ triển lãm SaigonTex 2018 về ngành dệt may vào giữa tháng 4 vừa qua. tại TP.HCM, các doanh nghiệp (DN) lo ngại rằng một trong những yếu tố gây ảnh hưởng lớn tới sức cạnh tranh của ngành dệt may chính là chi phí logistics. Có thể thấy logistics đóng vai trò quan trọng trong việc giảm chi phí cho DN. Hàm lượng giá trị gia tăng trong sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam hiện nay đã tăng lên rất nhiều. Ngoài việc, mở rộng quy mô sản xuất bằng các công nghệ tiên tiến, các DN dệt may, bắt đầu quan tâm đến việc sử dụng dịch vụ logistics trọn gói như các “đại gia lớn” khác. Với sự phát triển nhanh của công nghệ trong sản xuất, sự đòi hỏi đáp ứng nhanh của thị trường, cùng với sự cạnh tranh ngày một gay gắt, DN nào làm chủ được công nghệ chính là chìa khóa cho sự phát triển bền vững. Do đó, việc các DN chủ động trong quản lý cung ứng nguồn nguyên liệu, kiểm soát được thời gian giao nhận hàng thì sẽ làm chủ được thị trường và tăng sức cạnh tranh cho DN.

Hiện nay, theo đà phát triển của ngành, Hiệp hội dệt may Việt Nam dự đoán đến năm 2025 kim ngạch XNK của ngành lên đến khoảng 100 tỷ USD. Như vậy, ngoài việc các DN cần phải đầu tư trang thiết bị hiện đại, áp dụng các cơ chế quản lý mở rộng kinh doanh, thì việc quản lý chi phí logistics vận chuyển cũng cần được quan tâm nhiều hơn. Thay vì sử dụng nhiều nhà cung cấp dịch vụ nhỏ lẻ, các DN nên thay đổi bằng nhà cung cấp dịch vụ lớn, giao nhận trọn gói cũng làm giảm chi phí cho các DN.

Giảm chi phí,  tăng sức cạnh tranh

Hiện nay, ngoài những nỗ lực tự thân của các DN thay đổi theo xu hướng cải tiến công nghệ cùng với phương thức sản xuất, việc làm thế nào để giảm chi phí logistics cũng đang được các DN quan tâm và cải thiện. Ở những tập đoàn lớn công nghệ 4.0 đã và đang được đưa vào sử dụng và đem lại hiệu quả tích cực, hướng sản xuất đến những phân khúc sản phẩm giá trị cao như ODM (tự thiết kế, tự chủ nguyên phụ liệu, sản xuất, vận chuyển), OBM (tự thiết kế và bán sản phẩm bằng thương hiệu riêng). Ngoài ra, các DN cũng đã lựa chọn nhà cung cấp tích hợp từ đầu vào nguyên liệu đầu vào, phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng và hoạt động xuất khẩu. Việc này đã góp phần tăng sức cạnh tranh của DN Việt đối với các đối thủ trong khu vực.

Năm 2018 được dự đoán sẽ là năm khởi sắc của ngành dệt may Việt Nam. Sự chuẩn bị kỹ lưỡng của các doanh nghiệp và chủ trương phát triển công nghiệp phụ trợ của Chính phủ đã tạo động lực lớn để ngành dệt may phát triển mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, sức cạnh tranh sẽ tăng cao hơn nữa nếu chi phí logistics được giảm xuống. Điều đó phụ thuộc vào hệ thống quản lý của từng DN.

Theo: Vietnam Logistics Review

Giảm chi phí logistics trong chuỗi cung ứng hàng tiêu dùng đóng gói

Các chuỗi cung ứng bán lẻ CPG (hàng tiêu dùng đóng gói) luôn phải đối mặt với một trận chiến liên tục cho thị phần và không gian kệ bán lẻ. Giá bán là một vũ khí quan trọng trong trận chiến này và các công ty CPG có thể dựa vào các giải pháp logistics để tạo ra lợi thế chi phí. Dưới đây là một số lựa chọn chiến lược logistics để giúp các nhà sản xuất CPG giảm chi phí trong chuỗi cung ứng.

Không qua khâu trung gian  

Các nhà sản xuất CPG sẽ tiết kiệm được chi phí khi họ không sử dụng nhà kho để phân phối hàng hóa mà vận chuyển thẳng các lô hàng phù hợp tới mạng lưới bán lẻ. Nhờ đó, nhà sản xuất CPG giảm thiểu được chi phí vận chuyển, lưu kho. Chiến lược này cũng giúp nhà bán lẻ có được sản phẩm nhanh hơn với mức giá thấp hơn từ nhà sản xuất. (Xem hình 1)

Chiến lược này dựa trên nguyên tắc giảm số khâu vận động trong chuỗi cung ứng để làm giảm tổng chi phí và chi phí bình quân trên một đơn vị hàng hóa đầu ra, tạo điều kiện cho mức giá bán lẻ cuối cùng cạnh tranh tốt hơn. Khảo sát từ 1 nhà máy sản xuất sữa tươi cho thấy, nếu nhà máy vận chuyển 400 đơn hàng mỗi ngày, trong đó có  25% số đơn hàng được giao trực tiếp thì tiết kiệm khoảng 750.000 đô la.

Sử dụng hình thức giao hàng bỏ qua khâu vận chuyển

Theo thống kê, Việt Nam có 49 triệu người kết nối mạng internet với khoảng 23 triệu người thường xuyên mua sắm trực tuyến. Hình thức mua này có mức tăng trưởng gần 20%/năm. Do đó, tỷ lệ các đơn đặt hàng trực tuyến từ người tiêu dùng tới các doanh nghiệp bán lẻ cũng đang tăng lên và chiếm một phần doanh thu không nhỏ bên cạnh mảng bán lẻ truyền thống. Với nhóm các đơn hàng này cần cân nhắc sử dụng hình thức giao hàng bỏ qua khâu vận chuyển (drop shop). (Xem hình 2)

Sau khi nhà bán lẻ nhận đơn hàng, họ sẽ liên hệ với nhà sản xuất cho phép drop shipping để thương lượng mức giá bán sản phẩm. Nhà sản xuất sẽ tiến hành xử lý đơn hàng, đóng gói, giao hàng cho người mua dưới thông tin của nhà bán lẻ để duy trì thương hiệu của nhà bán lẻ. Nhà bán lẻ được hưởng phần lợi nhuận từ chiết khấu đã thương lượng với nhà cung cấp. Mọi hoạt động xử lý hàng hóa và hoàn tất đơn hàng đều do nhà sản xuất  thực hiện. Sự khác biệt lớn nhất giữa drop shipping và các mô hình bán lẻ khác là doanh nghiệp bán lẻ không cần lưu kho hàng hóa, họ tham gia vào vận hành các giao dịch trực tuyến mà không cần sở hữu sản phẩm, kho hàng, lưu trữ tồn kho và vận chuyển.

Phương pháp này cho phép giảm số khâu vận động của sản phẩm, giảm thiệt hại từ số lần bốc dỡ, khoảng cách di chuyển, thời gian xử lý đơn hàng. Tuy nhiên, nhà máy phải trở thành kho chứa để tích lũy đủ lô hàng cho bán lẻ. Họ cũng cần không gian và địa điểm để duy trì khối lượng lớn sản phẩm, hệ thống quản lý vận chuyển và các hãng vận tải linh hoạt. Sự tiết kiệm trong chiến lược này không chỉ là lợi ích của bán lẻ mà còn cho cả các nhà sản xuất CPG, do họ tránh được vận chuyển, tiếp nhận, lưu trữ và xử lý các chi phí khác.

Thiết kế bao bì đóng gói dựa vào nhu cầu logistics và vận tải

Chi phí tổng thể của bao bì thay đổi rất nhiều bởi sản phẩm và ứng dụng, nhưng nó thường chiếm 10% – 30% giá vốn hàng bán. Tiết kiệm chi phí bao bì là một chiến lược đầu tư lâu dài với chuỗi cung ứng hàng tiêu dùng đóng gói. Để có được các thiết kế bao bì hợp lý, các chuyên gia logistics cần tham dự vào khâu thiết kế bao bì. Trước đây, các quyết định đóng gói tại các công ty sản xuất CPG thường giao cho bộ phận bán hàng và marketing. Điều này có thể làm tăng tổng chi phí đóng gói do thiếu hiệu quả ở giai đoạn cuối cùng là lắp ráp và giao hàng. Bao bì hiệu quả không chỉ cần bắt mắt, nó cần thiết thực. Để tránh sự lãng phí ở khâu sử dụng, các tính toán về bốc xếp và chuyên chở cần được chú ý ngay ở khâu thiết kế đóng gói. Theo tính toán, những thay đổi này có thể tiết kiệm được 17% – 20% cho chi phí thành phẩm.

Cũng cần có thiết kế bao bì riêng cho các sản phẩm bán online vì loại bao bì dùng cho sản phẩm cần trưng bày tại các cửa hàng truyền thống trở nên rất lãng phí trong thương mại điện tử. Chi phí phát sinh do bao bì không thích ứng trong thương mại điện tử thường chiếm tới 20% tổng chi phí đóng gói của công ty, điều này làm tổn hại đến lợi nhuận. Các gói hàng thương mại điện tử phải di chuyển qua nhiều điểm tiếp xúc trên đường đến người tiêu dùng và không đòi hỏi các thiết kế trình bày và minh họa như trong bán lẻ truyền thống. Tỷ lệ trả lại hàng trong thương mại điện tử khá cao chiếm tới 20% – 30%. Do đó với các sản phẩm trực tuyến cần phải có những thiết kế bao bì mới để tận dụng các cơ hội tiết kiệm.

Sử dụng crossdocking

Khi nhà sản xuất CPG phải phân phối qua khâu trung gian, thì Cross docking là một ứng dụng hữu hiệu. Cross docking là việc chuyển giao hàng hóa và vật liệu từ một phương tiện vận tải đầu vào sang một phương tiện vận tải đầu ra mà không có quá trình nhập kho hay lưu trữ hàng hóa. Crossdocking tạo ra một khoản tiết kiệm lớn từ việc loại trừ lưu kho hàng hóa, vì vậy, không phải vận tải đến khu vực lưu trữ, không có tổn thất hàng hóa lưu kho. Các chi phí bảo quản, xử lý hàng tồn kho được loại trừ hoặc giảm đáng kể. Crossdocking cũng giúp cải thiện dịch vụ khách hàng thông qua việc đẩy nhanh tiến trình giao hàng cho khách. Các nhà sản xuất, chịu trách nhiệm rất lớn trong việc khiến cho hoạt động crossdocking tại trung tâm phân phối  thành công.

Cộng tác với các nhà bán lẻ và các đối tác 3PL

Vận tải  hợp nhất là một chiến lược kết hợp vận chuyển LTL từ các công ty khác nhau di chuyển đến cùng một địa điểm để tận dụng tỷ lệ tải trọng chi phí thấp hơn. Hiện tại, có rất ít sự phối hợp giữa những đơn hàng đặt từ phía nhà bán lẻ trong các chuỗi cung ứng hàng hóa. Họ gọi mù tạt, nước sốt cà chua và dưa chuột từ một loạt các nhà cung cấp khác nhau và trả phí vận chuyển LTL cho các đơn hàng nhỏ, trong khi các lô hàng này đi song song trên cùng 1 tuyến đường để đến DC. Nếu các nhà bán lẻ sử dụng các đơn vị 3PL trong quản lý dự trữ và mua, 3PL sẽ kết hợp các đơn hàng từ nhiều nhà cung cấp theo 1 chuyến hàng lớn. Do đó tăng quy mô vận chuyển để sử dụng vận tải FTL và giảm chi phí vận chuyển đơn vị. Đối với các nhà sản xuất CPG nhỏ và vừa, có phạm vi thị trường hẹp tại một khu vực có thể hợp tác với một số nhà bán lẻ trong cùng khu vực để kết hợp các đơn hàng với nhau, nhờ đó có thể vận chuyển trực tiếp hàng hóa cho các nhà bán lẻ với các chuyến hàng FTL.

Theo: Vietnam Logistics Review

Một vụ lừa đảo liên quan đến vận đơn chủ

Hãy cảnh giác khi thấy giá rẻ với điều kiện thanh toán ưu đãi vì việc này rất hiếm khi xảy với giao dịch lần đầu mà không ẩn chứa ý định gì. Dưới đây là một vụ lừa đảo liên quan đến vận đơn chủ xảy ra gần đây và làm cho người giao nhận tại cảng trả hàng bị thiệt hại khá lớn.

Vận đơn chủ thể hiện mối quan hệ của việc nhận hàng, trả hàng giữa người vận chuyển thực tế (actual carier) – thường là hãng tàu (main line) – với những người giao nhận ở cảng nhận hàng và cảng trả hàng đứng tên trên vận đơn chủ là người giao hàng (shipper) và người nhận hàng (consignee) hoặc đứng tên trên vận đơn vận tải đa phương thức là người gửi hàng (consignor) và người nhận hàng trong trường hợp khá phổ biến khi hãng tàu là người kinh doanh vận tải đa phương thức để kết hợp với vận đơn thứ cấp (HBL) thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hóa với chủ hàng. Vì vậy, mức độ tin cậy giữa những người giao nhận là rất quan trọng, quyết định thành công của dịch vụ giao nhận, vận chuyển.

Tóm tắt sự việc      

Một công ty giao nhận của Việt Nam (gọi tắt là “DN”) thực hiện một lô hàng chỉ định, sử dụng một đại lý tại Trung Quốc (gọi tắt là “AS”) để thu xếp vận chuyển hàng hóa đóng trong container từ cảng Xingang (Trung Quốc) về cảng Cát Lái (TP. Hồ Chí Minh). Đại lý này là hội viên thuộc Hiệp hội “Freight Net”. Hợp đồng đại lý giữa DN và AS nêu rõ tại điều khoản thanh toán rằng giá dịch vụ vận chuyển (cước vận chuyển) sẽ được trả chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày tàu rời cảng Xingang. Như vậy có nghĩa là DN có quyền trả cước vận chuyển trong vòng 30 ngày kể từ ngày tàu khởi hành từ cảng bốc hàng (loading) mà không bị coi là vi phạm hợp đồng.

Mọi việc được tiến hành trôi chảy kể từ khi hai bên bắt đầu liên hệ với nhau cho đến khi tàu rời cảng bốc hàng ngày 10.3.2018 và tiếp tục không xảy ra vấn đề gì ngay cả đến khi tàu cập cảng Cát Lái ngày 20.3.2018. Nhưng thật bất ngờ, vào ngày 22.3.2018, AS tuyên bố rút lại điều khoản thỏa thuận cho thanh toán trong 30 ngày, thực chất là đã đơn phương vi phạm hợp đồng. Họ giữ bộ MBL gốc trong tay và yêu cầu DN thanh toán mới thả hàng. DN hiểu rằng, họ vi phạm thỏa thuận 30 ngày và yêu cầu thanh toán cước vận chuyển ngay. Do đó, ngày 23.3.2018, DN thanh toán cho AS tiền cước vận chuyển và AS xác nhận đã có số tiền này trong tài khoản của họ ngày 28.3.2018.

Tuy vậy, sau khi nhận đủ tiền cước vận chuyển, họ cũng không làm thủ tục để thả hàng như thỏa thuận ban đầu mà vẫn tiếp tục giữ bộ MBL gốc và yêu cầu DN thanh toán số tiền 7.700 USD với lý do DN thanh toán tiền cước chậm nên tiền phạt là 550 USD/ngày (tổng cộng 14 ngày = 7.700USD). DN đã kiểm tra với hãng tàu và được biết rằng hãng tàu không thu khoản tiền phạt nào mà AS đã bịa đặt ra việc này, tự ý thu mà không thông báo từ ban đầu cho DN để lưu ý.

Ngày 2.4.2018, DN nhờ người bên Trung Quốc đến địa chỉ của AS nêu trong hợp đồng để gặp, thương lượng thì phát hiện không có doanh nghiệp nào là AS có trụ sở tại địa chỉ này. DN điện thoại cho AS nhưng không ai nghe máy. Họ chỉ sử dụng email, skype, tin nhắn qua điện thoại để giao dịch.

Vì số tiền quá lớn so với tiền cước vận chuyển, nên DN đã cố gắng thương lượng và sau rất nhiều lần thuyết phục, AS đồng ý giảm xuống còn 3.700USD (ban đầu là 7.700USD). Cuối cùng, DN buộc phải thanh toán tiền cho AS để lấy MBL gốc, trả hàng cho khách hàng.

Vì container hàng nằm lâu tại cảng (gần 1 tháng), dẫn đến phí lưu container và lưu bãi phát sinh hơn 1.000 USD. Không còn cách nào khác, DN cũng phải trả số tiền này để lấy hàng giao cho chủ hàng.

Thủ đoạn lừa đảo

AS dùng “chiêu trò” muôn thuở là chào giá dịch vụ vận chuyển thấp hơn giá thị trường và cho thời hạn thanh toán dài, thậm chí là vượt xa thời gian tàu đến cảng trả hàng dù mới có quan hệ đối tác lần đầu mà không sợ mất tiền cước để tạo niềm tin. AS bịa đặt rằng hãng tàu đòi tiền phạt do chậm thanh toán tiền cước và giữ MBL để ép DN phải trả cái gọi là “tiền phạt” mới giao MBL hoặc làm thủ tục để DN có thể nhận hàng mà không cần có bản gốc MBL (nộp MBL cho đại lý của hãng tàu tại Xingang).

Phòng tránh (nếu có thể) hoặc hạn chế bị lừa đảo

Ý định lừa đảo có thể hình thành trước hoặc trong quá trình giao dịch dựa vào tình huống cụ thể, ví dụ như khi thấy đối tác tỏ ra thận trọng, kiểm tra kỹ mọi việc, kẻ xấu thường từ bỏ ý đồ, hoặc nếu đối tác tỏ ra quá dễ dãi, chúng sẽ “giở trò” ngay. Thực tế cho thấy, không thể hoàn toàn loại bỏ lừa đảo vì sự “thoái hóa, biến chất” có thể xảy ra ngay cả khi chúng ta đã rất cẩn thận nhưng tỷ lệ bị lừa là rất thấp. Vì vậy, một số biện pháp dưới đây có thể hạn chế đến mức tối đa hành vi lừa đảo:

1. Nên thận trọng hơn với doanh nghiệp đối tác mới giao dịch lần đầu. Có thể kiểm tra nhanh qua bạn hàng cùng hiệp hội ngành nghề. Nên chủ động gửi đăng ký kinh doanh (bản mềm, có màu) của mình trước cho đối tác để có cơ sở đề nghị họ gửi đăng ký kinh doanh và coi đây là việc bình thường khi giao dịch để qua đó biết được thông tin của doanh nghiệp. Ngoài ra, có thể tìm hiểu đối tác qua sự giúp đỡ của đại sứ quán, thương vụ Việt Nam ở nước sở tại.

2. Hãy cảnh giác khi thấy giá rẻ với điều kiện thanh toán ưu đãi vì việc này rất hiếm khi xảy ra với giao dịch lần đầu mà không ẩn chứa ý định gì.

3. Nên điện thoại để biết cụ thể tên người, số điện thoại bàn, số di động, sử dụng địa chỉ email của công ty (có thể kết hợp với địa chỉ thư điện tử công cộng) để dễ dàng hơn khi xác định người, công ty sau này vì họ phải đăng ký dịch vụ điện thoại, thư điện tử riêng (không phải công cộng) ở nước sở tại. Nên đưa vào hợp đồng tên người liên hệ, số fax, địa chỉ email của công ty khi giao dịch chính thức.

Sau khi bị lừa đảo, nên thông báo cho bạn hàng, hiệp hội mà mình tham gia (để phòng tránh chung); gửi thông tin cho hiệp hội mà kẻ lừa đảo là hội viên để tố cáo; bảo quyền đòi bồi thường với những tài liệu, chứng cứ đã có.

Theo: Vietnam Logistics Review

Kinh nghiệm của Toyota & bài học cho doanh nghiệp Việt Nam

Toyota là một hiện tượng và là biểu tượng cho sự thành công của các công ty Nhật. Việc cho ra đời mẫu xe đầu tiên vào năm 1934, bằng những chiến lược đúng đắn, Toyota đã dần khẳng định được vị thế trên thị trường thế giới. Tuy có những lúc còn gặp nhiều khó khăn nhưng hiện nay, Toyota đã trở thành nhà sản xuất và tiêu thụ ô tô đứng đầu thế giới. Bài học về những thành công và thất bại của hãng Toyota rất cần thiết cho các doanh nghiệp sản xuất ô tô nội địa của Việt Nam.

Bài học cho các DN  sản xuất ô tô nội địa  

Xác định và phát triển một ưu thế để làm vũ khí chiến lược

Việt Nam có rất nhiều hãng ô tô thâm nhập vào thị trường và hầu hết đều là những thương hiệu nổi tiếng trên thế giới. Như vậy, là thành viên mới gia nhập vào sân chơi của ngành công nghiệp ô tô, các DN ô tô nội địa Việt Nam cần có chiến lược nhằm xác định và phát huy thế mạnh riêng mới đủ sức cạnh tranh. Việc xác định thế mạnh cần phải có kế hoạch, chiến lược rõ ràng và cần kế hoạch để phát huy thế mạnh đó. Thế mạnh của một DN có thể được phát hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, cách tốt nhất để gây ấn tượng cho thị trường vốn đã tồn tại quá nhiều thương hiệu ô tô nổi tiếng là nên xác định thế mạnh của mình ngay từ ban đầu.

Chất lượng luôn là ưu tiên hàng đầu, là tôn chỉ hoạt động Kinh nghiệm của Toyota về quyết định cắt giảm tối đa chi phí để cạnh tranh với các đối thủ về lượng mà bỏ qua một số nguyên tắc trong hoạt động là một bài học đáng giá cho DN Việt Nam. Khi sự cạnh tranh trên thị trường trở nên khốc liệt, DN dễ đi theo chiến lược giảm chi phí để tăng doanh thu mà không chú ý đến việc kiểm tra chất lượng. Trong bất cứ ngành nào, chất lượng luôn là yếu tố tối quan trọng, đặc biệt là trong ngành công nghiệp ô tô. Tại Việt Nam, khách hàng trả tiền cho một chiếc ô tô không chỉ để sử dụng như một phương tiện mà còn là tài sản và là công cụ thể hiện bản thân. Vì thế, cân đối giữa lượng và chất luôn là phương pháp hiệu quả cho mọi DN trong mọi trường hợp.

Tính linh hoạt sẽ giúp giải quyết vấn đề dễ dàng hơn

Việc gặp các vấn đề trong quá trình sản xuất kinh doanh là không thể tránh khỏi đối với bất cứ DN nào dù đã hoạt động lâu năm hay mới xuất hiện. Vì thế, sự chuẩn bị tốt để hạn chế những thiệt hại là cần thiết. Hơn nữa, sự chuẩn bị tốt giúp các DN Việt Nam giải quyết vấn đề linh hoạt và hiệu quả hơn trong những tình huống bất ngờ. Để phát huy tốt khả năng xử lý các vấn đề, DN Việt Nam cần tham khảo và theo dõi một cách chi tiết từng trường hợp cụ thể mà các DN đối thủ đã gặp phải và cách giải quyết của họ trong trường hợp đó để tích lũy kinh nghiệm nhằm hạn chế tối đa rủi ro khi gặp phải trường hợp tương tự trong tương lai. Biện pháp này giúp tiết kiệm chi phí và thời gian nhất là đối với một DN mới gia nhập vào thị trường ô tô.

Tính nhạy bén với những thay đổi của thị trường là hết sức cần thiết

Việc xác định thế mạnh của DN và xây dựng chiến lược rõ ràng cần được kết hợp một cách nhuần nhuyễn và hòa hợp với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường. Các DN Việt Nam không nên áp dụng mọi chiến lược hay kế hoạch đã đề ra từ ban đầu một cách cứng nhắc, thiếu tính mềm dẻo. Mọi chiến lược, kế hoạch, nguyên tắc cần được thay đổi theo sự thay đổi của thị trường. Vấn đề nhạy bén với sự thay đổi nhỏ của thị trường là một bài toán không hề dễ nhưng khả thi đối với bất cứ DN nào dù lớn hay nhỏ.

Nghiên cứu thị trường quốc tế sâu và rộng trước khi thâm nhập

Bài toán về độ nhạy cảm đối với sự thay đổi của thị trường sẽ được giải quyết dễ dàng hơn nếu việc nghiên cứu thị trường theo cả chiều sâu và chiều rộng được xác định là một chiến lược phát triển bền vững lâu dài thay vì chỉ là một phần của chiến lược phát triển sản phẩm mới. Các DN Việt Nam nên thực hiện việc nghiên cứu thị trường một cách thường xuyên và duy trì liên tục để nắm bắt được những thay đổi của thị trường.

Như vậy, thông qua phân tích các kinh nghiệm thành công và thất bại của Toyota, nhà sản xuất và tiêu thụ ô tô đứng đầu thế giới hiện nay, về các khía cạnh như mặt hàng, thị trường, kết quả hoạt động kinh doanh, bài viết đã rút ra một số bài học có giá trị cho các DN sản xuất ô tô nội địa của Việt Nam để có sự chuẩn bị tốt về chiến lược, nguồn lực nhằm khẳng định vị thế trên thị trường.

Theo: Vietnam Logistics Review

Hoàn thiện giao thông đường bộ, phát triển hàng không, cảng biển Đà Nẵng

Sáng nay (10/8), tại Đà Nẵng, Ủy ban Kinh tế TW phối hợp với Thành ủy Đà Nẵng tổ chức hội thảo “Xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

Đề xuất mô hình “Đô thị sân bay” 

Theo KST Ngô Viết Nam Sơn, theo nhìn nhận, quỹ đất của Đà Nẵng không phải cạn kiệt như nhiều ý kiến mà do nhiều dự án quy hoạch chưa đúng tầm. Hiện nay quy hoạch của Đà Nẵng đã chia thành phố thành các phân khu, như những khu kinh tế đóng góp cho thành phố theo những hướng khác nhau.

Ông Sơn cho rằng, Đà Nẵng cần tính đến phương án xây dựng mô hình đô thị sân bay. “Hiện nay, sân bay cả nước có chung tình trạng quy hoạch sân bay và đô thị không kết hợp với nhau nên sân bay không đóng góp cho kinh tế nhiều, phục vụ cho giao thông hàng không là chính”, ông Sơn nói.

Ông cho biết, hiện nay một số nước trên thế giới có xu hướng biến sân bay thành một đơn vị kinh tế. Đà Nẵng là đô thị đặc biệt, có vị trí đặc biệt để phát triển đô thị sân bay. Không khéo sân bay Đà Nẵng sẽ gặp tình trạng kẹt xe như sân bay Tân Sơn Nhất. Sau đó, phải xây dựng những hệ thống giao thông rất tốn kém nhưng hiệu quả không cao. Cửa ngõ vào thành phố mà kẹt xe thì thành phố khó phát triển.

 Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Trương Quang Nghĩa đề nghị cấp thiết xây dựng cảng Liên Chiểu và mở rộng sân bay Đà Nẵng

“Đà Nẵng có nhiều điểm khá giống TP.HCM. Nhưng hiện nay cơ hội phát triển một sân bay khác cho Đà Nẵng là sân bay Chu Lai. Nhưng sân bay này lại cách thành phố gần 100km. Người ta có một tư duy sai lầm là sân bay phải xa đô thị. Nhưng thật ra sân bay phải luôn gắn kết với đô thị. Các đô thị có sân bay phát triển trên thế giới thường thì khoảng cách đến đô thị từ 15-30 phút”, ông Sơn cho biết.

KST Sơn nêu quan điểm, sân bay Đà Nẵng cần tính đến việc phát triển hài hòa với đô thị, vừa phục vụ giao thông hàng không vừa phát triển đô thị cho Đà Nẵng trong ít

 Theo Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Trương Quang Nghĩa, cảng Liên Chiểu cần được xây dựng sớm. Nếu không vai trò trung tâm, kết nối giao thông của Đà Nẵng sẽ vô cùng khó khăn. Bộ GTVT sắp tới sẽ triển khai giai đoạn tiếp theo của sân bay Đà Nẵng, và xây dựng theo đúng quy hoạch là 28 triệu lượt khách, Đà Nẵng rất mong là sân bay Đà Nẵng không quá 35 triệu lượt khách vì nằm bên trong đô thị. Có đường cao tốc rồi thì việc kết nối, chia sẻ sân bay Đà Nẵng với sân bay Chu Lai sẽ phù hợp. Tuy nhiên đến nay lượng khách ở sân bay Đà Nẵng đã đạt 13 triệu, nếu không làm ngay sân bay Đà Nẵng sẽ quá tải.

nhất 30 năm tới. Đà Nẵng chưa kẹt xe, nhưng nếu không làm gì thì kẹt xe chỉ là ngày 1 ngày 2. “Đà Nẵng cần gấp rút làm một đường vành đai. Dọc theo đường vành đai đó làm những khu dịch vụ, thương mại… để người dân có thể sống chung. Đây là mô hình tiên tiến trên thế giới. Điển hình một số sân bay đã thành công và đóng góp cho sự phát triển kinh tế”, ông Sơn kiến nghị.

Hoàn thiện giao thông đô thị, phát triển dịch vụ logictics 

Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Lê Đình Thọ đánh giá giao thông đô thị của Đà Nẵng tương đối hoàn chỉnh. Nhưng để phát triển lâu dài thì phải có nhiều giải pháp, tính đến hệ thống giao thông trong lòng đất và giao thông trên cao kết hợp với giao thông trên mặt đất như hiện nay.

Theo Thứ trưởng, hiện nay hệ thống đường cao tốc, quốc lộ tạo nên mạng lưới giao thông hoàn chỉnh nhưng chất lượng chưa đạt yêu cầu của sự phát triển. Trung tâm khu vực miền Trung, cao tốc đang được Quốc hội, Chính phủ nghiên cứu đầu tư.

“Chúng ta đang phấn đấu năm 2020 hoàn chỉnh đường cao tốc đã được quy hoạch và liên quan đến TP Đà Nẵng. Cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi ngày 2/9 sẽ khánh thành. Việc kết nối đường cao tốc về phía Bắc, đến năm 2020 sẽ thông tuyến La Sơn – Tuy Loan. Hầm đường bộ Hải Vân cũng đến năm 2020 sẽ thông tiếp một hầm nữa. Do đó việc kết nối ra Huế, Quảng Nam về đường bộ rất thuận lợi”, Thứ trưởng nói.


KTS Ngô Viết Nam Sơn đề xuất Đà Nẵng nên xây dựng Đô thị sân bay

Thứ trưởng cũng cho biết, theo dự báo, nhu cầu tăng trưởng vận tải hàng hóa qua cảng biển của Đà Nẵng rất lớn (trên 10%). Cảng Tiên Sa đã được dự báo không thể phát triển lâu dài. Hiện nay nguồn lực chúng ta chưa có nên chưa đạt được mục tiêu xây dựng cảng Liên Chiểu. Trong giai đoạn tới thì phải nhấn mạnh vấn đề về cảng Liên Chiểu.

“Chúng tôi cũng phát hiện một điểm nhấn là logictics, nên quyết liệt trong vấn đề này. Liên Chiểu là một trong những đầu mối cửa ngõ, nằm trong trục hành lang kinh tế Đông – Tây, mà đây lại là điểm cuối cùng nên dịch vụ logictics là cực kỳ quan trọng”, Thứ trưởng nói.

Thứ trưởng cũng cho rằng đến thời điểm cần phải nghiên cứu lại sân bay Đà Nẵng. Phải có tầm nhìn xa hơn sân bay Đà Nẵng có thể đạt công suất bao nhiêu. Qua đó tính đến vấn đề kết nối giao thông và hạ tầng thiết yếu để phục vụ sân bay Đà Nẵng cũng như áp dụng đô thị gắn kết sân bay. Ngoài ra, Bộ GTVT đang tính đến giải pháp lâu dài, nhấn mạnh là sân bay Chu Lai. Đây là yếu tố tác động rất lớn để chia sẻ với Đà Nẵng.

Thứ trưởng Lê Đình Thọ cũng cho biết sẽ làm việc với Đà Nẵng để lựa chọn một vị trí để làm ga đường sắt. Theo kế hoạch năm 2019, Bộ GTVT sẽ trình Quốc hội về đường sắt tốc độ cao. Do đó vị trí của Đà Nẵng và ga Đà Nẵng rất quan trọng.

Theo: Báo Giao thông