Chuỗi cung ứng toàn diện trong ngành thực phẩm, đồ uống

Sáng ngày 01.8.2018, Công ty CP Quảng cáo và Hội chợ Thương mại (VINEXAD) đã tổ chức buổi Họp báo giới thiệu Triển lãm Quốc tế chuyên ngành Thực phẩm, Đồ uống Việt Nam lần thứ 22 – VIETFOOD & BEVERAGE 2018 và Triển lãm Quốc tế về Thiết bị công nghệ chế biến, Bao bì thực phẩm & Đồ uống Việt Nam – PROPACK 2018, sắp diễn ra tới đây từ ngày 8-11.8.2018 tại Trung tâm Hội chợ & Triển lãm Sài Gòn (SECC), TP. Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Khắc Luận, Tổng Giám đốc VINEXAD (trái) và ông Nguyễn Ngọc An, Phó Chủ tịch Hội lương thực thực phẩm Tp. Hồ Chí Minh (phải) chủ trì buổi họp báo

Triển lãm Quốc tế chuyên ngành Thực phẩm – Đồ uống & Thiết bị Công nghệ chế biến, bao bì thực phẩm và đồ uống với tên gọi Vietfood & Beverage – ProPack được tổ chức thường niên hàng năm tại TP. Hồ chí Minh và TP. Hà Nội. Ông Nguyễn Khắc Luận – Tổng Giám đốc VINEXAD cho biết “quy mô triển lãm năm nay là lớn nhất từ trước đến nay, từ tiếng vang của thành công những năm trước, triển lãm năm nay thu hút sự tham gia của 550 doanh nghiệp (tăng 20% so với năm 2017), đến từ 20 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó, doanh nghiệp nước ngoài chiếm 54%. Điểm nổi bật của Vietfood & Beverage – Propack 2018 là 7 khu gian hàng quốc gia  (National Pavillons) gồm: Ấn Độ, Ba Lan, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam với trên 3.000 sản phẩm mới và 20 thương hiệu lớn trong ngành”.

Trong khuôn khổ buổi triển lãm sẽ diễn ra 2 chuyên đề hội thảo “Ứng dụng thương mại điện tử trong chuỗi hệ sản phẩm – giải pháp nâng cao vị thế cạnh tranh cho doanh nghiệp ngành lương thực – thực phẩm” và “Nông sản hữu cơ, nông sản sạch: Liên kết giữa sản xuất và phân phối – bán lẻ”

Chuỗi sự kiện này tiếp tục được ghi nhận là một hoạt động xúc tiến thương mại mang ý nghĩa quan trọng giúp các nước tham gia triễn lãm có cơ hội giao thương, mở rộng thị trường kinh doanh, chuyển giao công nghệ, đưa sản phẩm trở nên đa dạng hóa và tiện ích.

Theo: Vietnam Logistics Review

Nhiều cơ hội quảng bá, mở rộng thị trường kinh doanh cho doanh nghiệp Việt Nam

Ngày 25.7.2018, tại TP. Hồ Chí Minh diễn ra buổi họp báo giới thiệu về Triển lãm quốc tế chuyên ngành Dược phẩm và Trang thiết bị y tế (Vietnam Medi pharm Expo) và triển lãm Hội chợ giao dịch hàng xuất khẩu Chiết Giang 2018. Cả 2 sự kiện sẽ được diễn ra đồng thời vào ngày 02 – 04.8.2018 tại Trung tâm hội nghị triển lãm Sài Gòn (SECC) Tp. Hồ Chí Minh. Các sự kiện này mở ra nhiều cơ hội quảng bá, mở rộng thị trường kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Đại diện Ban tổ chức trong buổi họp báo ngày 25.7.2018

Triển lãm Vietnam Medi Pharm Expo

Đây là triển lãm quốc tế chuyên ngành dược phẩm và trang thiết bị y tế, tổ chức thường niên vào tháng 8 tại Tp. Hồ Chí Minh và tháng 12 tại Hà Nội. Đây là một trong những hoạt động xúc tiến thương mại hiệu quả giữa các doanh nghiệp (DN) trong và ngoài nước nói chung và các DN trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội và các tỉnh thành lân cận nói riêng. Từ tiền đề thành công những năm trước, Triển lãm lần thứ 18 này đã tăng quy mô khi thu hút được 350 doanh nghiệp (tăng 20% so với năm 2017) đến từ 20 quốc gia và vùng lãnh thổ, tiêu biểu là các cụm gian hàng lớn đến từ: Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Nhật Bản… Các sản phẩm chiếm ưu thế 35% trong năm nay là Máy móc – Thiết bị y tế như Vật tư tiêu hao, thiết bị thí nghiệm, đo lường, kiểm nghiệm; Thiết bị nội soi, phòng mổ, thiết bị y tế gia đình: Máy đo huyết áp, đường huyết… Các sản phẩm còn lại trong nhóm Máy móc ngành Dược (23%); Dược phẩm – Thực phẩm bổ sung (10%), Nha khoa (15%); Nhãn khoa (2%); Thiết bị làm đẹp (15%).

Ông Hứa Phú Doãn, Phó Chủ tịch Hội thiết bị y tế Việt Nam, cho biết hiện nay 4 ngành được các Nhà đầu tư quan tâm nhất là Điện tử, Công nghệ thông tin, Dệt may và Y tế. Tuy nhiên. Ở nước ta chỉ có khoảng 50 DN sản xuất các thiết bị y tế, nhưng chỉ là các thiết bị thông thường như xe, giường, tủ,… tỷ lệ nội địa hóa còn rất thấp, cần được Nhà nước hỗ trợ đầu tư nhiều hơn nữa. Phần lớn trang thiết bị y tế Việt Nam là do nhập khẩu (90%) bởi các quốc gia lớn (Nhật Bản, Đức, Mỹ, Trung Quốc, Singapore chiếm 55% giá trị nhập khẩu thiết bị y tế Việt Nam). 4 nhóm đối tượng tiêu thụ chính là các bệnh viện công (70%), bệnh viện tư, viện nghiên cứu, trường học và phòng khám. Các thiết bị nhập khẩu chính là các thiết bị về chuẩn đoán hình ảnh như máy cộng hưởng từ, máy CT, máy siêu âm, X-Quang chiếm 30%…

Ông Hứa Phú Doãn, Phó Chủ tịch Hội thiết bị y tế Việt Nam

Đây cũng là sự kiện mang đến nhiều cơ hội cho doanh nghiệp mở ra cơ hội tìm kiếm đối tác và giới chuyên môn tiếp cận công nghệ tiên tiến nhất của thế giới, phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao và đa dạng.

Hội chợ giao dịch hàng xuất khẩu Chiết Giang 2018

Được tổ chức cùng địa điểm và thời gian với Vietnam Medi-pharm Expo, triển lãm Hội chợ giao dịch hàng xuất khẩu Chiết Giang 2018 có chủ đề “Chiết Giang – Việt Nam cùng chung tay cùng tạo ra những thành tựu mới cho một vành đai một con đường” do Sở Thương mại tỉnh Chiết Giang chủ trì và đồng phối hợp cùng Công ty TNHH Triển lãm Quốc tế Yuanda Chiết Giang, Công ty CP Quảng cáo & Hội chợ Thương mại VINEXAD tổ chức.

Hội chợ giao dịch hàng xuất khẩu Chiết Giang lần đầu tiên tổ chức thành công vào năm 2011. Đến nay, Hội chợ này không chỉ được UFI công nhận mà hơn thế nữa còn trở thành nền tảng giao dịch kinh tế thương mại lớn nhất giữa tỉnh Chiết Giang và Việt Nam. Trở lại Việt Nam năm nay, Hội chợ trưng bày trên quy mô 150 gian hàng, với sự tham gia của trên 100 doanh nghiệp dẫn đầu về những thương hiệu của tỉnh Chiết Giang, thuộc 3 ngành hàng nổi bật gồm: Máy móc, Thiết bị điện, Điện tử – Ngũ kim, Vật liệu Xây dựng & Dệt may, Sản phẩm Gia dụng…

Ông Nguyễn Khắc Luận, Tổng Giám đốc VINEXAD

Trong buổi họp báo, ông Nguyễn Khắc Luận, Tổng Giám đốc VINEXAD cho biết đây là Hội chợ hàng hóa xuất khẩu đầu tiên do một tỉnh tổ chức có quy mô lớn nhất tại Việt Nam nhằm thúc đẩy sự “mở cửa hai chiều” của các luồng thương mại giữa tỉnh Chiết Giang và Việt Nam.

Theo thống kê, Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á của tỉnh Chiết Giang, cũng là một trong những điểm đến tập trung nhất đầu tư nước ngoài của các doanh nghiệp trong tỉnh. Hội chợ đã đưa Chiết Giang tham gia vào công cuộc xây dựng, thực hiện khung chiến lược quốc gia “một vành đai một con đường”, là cánh cửa và nền tảng quan trọng trong việc làm sâu sắc thêm sự hợp tác, giao lưu thương mại với Việt Nam.

Toàn cảnh buổi họp báo ngày 25.7.2018

Đây là cơ hội tốt để các doanh nghiệp sản xuất trong nước có cơ hội gặp gỡ đối tác nước ngoài, giúp mở rộng giao thương, quảng bá tới bạn bè quốc tế tốc độ phát triển và nhu cầu của thị trường Việt Nam, qua đó kêu gọi thu hút đầu tư sản xuất tại Việt Nam.

Theo: Vietnam Logistics Review.

Quy mô vốn & lợi thế của doanh nghiệp logistics

Trong kinh doanh, quy mô vốn là một lợi thế mà DN cần có để tạo ra sức cạnh tranh đủ lớn để thực hiện các chiến lược phát triển. Bài viết phân tích quy mô vốn tối ưu đối với các DN logistics Việt Nam trong giai đoạn (2011 – 2015) từ đó đưa ra một số định hướng chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của ngành cũng như cả nền kinh tế ngày nay.

Trong kinh doanh, quy mô vốn là một lợi thế mà DN cần có để tạo ra sức cạnh tranh đủ lớn để thực hiện các chiến lược phát triển. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa vốn càng nhiều thì càng có lợi thế cạnh tranh và có kết quả kinh doanh hiệu quả. Quy mô vốn cần phải tương thích với năng lực cốt lõi, sức mạnh của sản phẩm dịch vụ, cấu trúc của thị trường… Bài viết phân tích quy mô vốn tối ưu đối với các DN logistics Việt Nam trong giai đoạn (2011 – 2015) từ đó đưa ra một số định hướng chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của ngành cũng như cả nền kinh tế.

Mức vốn phổ biến  

Phân tích bảng 1, ta có số lượng các DN logistics tại Việt Nam tương ứng với các mức vốn: mức vốn có số lượng DN nhiều nhất là mức từ 1 – 5 tỷ (khoảng 8.000 DN, năm 2011 và tăng lên trên 10.500 nghìn DN, năm 2015). Số DN có vốn trên 200 – 500 tỷ, chỉ có khoảng dưới 200 DN, và số DN có vốn trên 500 tỷ xấp xỉ trên dưới 100 DN. Số lượng DN có mức vốn 5 – 10 tỷ và 10 – 50 tỷ chiếm tỷ trọng thứ hai. Số lượng DN ở quy mô này có sự tăng dần qua từng năm, cho thấy đây là mức quy mô được nhiều DN lựa chọn để hoạt động. (Bảng 1)

Bảng 1. Số lượng DN logistics theo quy mô vốn (Nguồn: VLA)

Xét về tình hình lãi lỗ toàn ngành, có thể thấy tổng lãi có tăng lên qua các năm. Trong khi đó, mức lỗ tương đối ổn định ở mức từ 11,5 – 13 nghìn tỷ. Do đó, lãi thuần của ngành cũng có tăng, giảm và trong hai năm 2014 – 2015 hoạt động của ngành khá hiệu quả với lãi thuần dương (cụ thể đạt khoảng 11 nghìn tỷ năm 2014 và đạt 17,4 nghìn tỷ năm 2015). (Bảng 2)

Bảng 2. Tình hình lãi lỗ  của DN logistics Việt Nam 

(Nguồn: Tính toán từ số liệu Tổng Cục Thống kê)

Quy mô vốn nào thích hợp?

Dựa vào tính toán của tác giả, có thể thấy quy mô vốn dưới 1 tỷ là mức tối ưu nhất cho các DN logistics Việt Nam tương ứng với bối cảnh của ngành trong giai đoạn (2011 – 2015), ở mức này, các DN lãi trung bình 8,59 tỷ. Kế tiếp là quy mô vốn từ 10 đến dưới 200 tỷ có mức lãi là 19 tỷ. Các quy mô vốn còn lại, thường ở mức lỗ với mức độ -1,5; 4,06 và -275,76 tỷ tương ứng với các mức 1 – 5 tỷ, 5 – 10 tỷ, và trên 200 tỷ.

Điều này cho thấy môi trường kinh doanh ở Việt Nam phù hợp với DN logistics quy mô nhỏ, hoạt động dựa trên việc cung cấp các dịch vụ có trình độ vừa phải, kết hợp làm đại lý hay đầu mối chứ không phải là DN lớn có đầy đủ các bộ phận chức năng  để cung cấp dịch vụ trọn gói. Mặc dù vậy, mức lợi nhuận 19 tỷ do quy mô DN từ 10 – 200 tỷ cũng cho thấy cần có những DN quy mô khá để cung cấp cho phân khúc các khách hàng cần dịch vụ trọn gói. Tuy nhiên, các kết quả này không có nghĩa là chỉ có 2 mức quy mô trên có lãi thuần, còn quy mô khác thì lỗ mà nhận định có thể rút ra ở đây là cơ cấu các DN logistics Việt Nam tương ứng với các quy mô vốn là chưa ổn (chưa nói đến cấu trúc tối ưu). Cần có sự tính toán để số lượng các DN logistics trong ngành là phù hợp tương ứng với việc các DN này có quy mô vốn hiệu quả.

Định hướng phát triển

Từ việc xác định được hiệu quả thật sự của các mức quy mô vốn của các DN logistics Việt Nam, một số định hướng về chiến lược vốn có thể cần thực hiện trong thời gian tới là như sau:

– Tổ chức lại cơ cấu của ngành theo quy mô các DN một cách hợp lý. Khuyến khích thị trường thực hiện hoạt động nhập hoặc tách DN một cách hợp lý để tạo ra các thành phần hoạt động hiệu quả.

– Có chính sách thích hợp để thực hiện cấu trúc vốn hiệu quả và hợp lý. Hiện nay, mối liên hệ giữa quy mô vốn và hiệu quả là chưa rõ ràng. Tuy nhiên, một điều chắc chắn là mối quan hệ này có quy luật và cần thực hiện việc nghiên cứu xác định được mối liên hệ phổ biến để có thể hoạch định hiệu quả việc phân bổ nguồn lực, phân bổ vốn thích hợp, tạo nên các phân khúc hoạt động hiệu quả nhất, tạo nên một cấu trúc phát triển bền vững của lĩnh  vực logistics.

– Điều tiết dòng vốn tín dụng của ngân hàng, các nguồn vốn trung và dài hạn khác để phân bổ vào ngành một cách hiệu quả.

– Cải thiện tính chất và trình độ của DN logistics theo hướng ngày càng tinh và có sức cạnh tranh mạnh với năng lực cốt lõi phù hợp với yêu cầu thị trường trong nước và hướng đến phát triển ra ngoài lãnh thổ.

– Trước mắt, có thể thực hiện việc đánh giá sâu vai trò của vốn trong mối quan hệ với cách thức vận hành của các DN, khách hàng và các chủ thể khác trong lĩnh vực logistics, để xác định những cách thức và quy mô hoạt động hiệu quả nhất nhằm xây dựng các chương trình hỗ trợ. Như trong bài phân tích này, các DN logistics có quy mô vốn nhỏ lại hoạt động có hiệu quả cao, đạt những kết quả hoạt động kinh doanh tích cực, nên chăng việc xây dựng chiến lược có thể bắt đầu từ nền tảng của DN quy mô vốn dưới 1 tỷ?

Theo: Vietnam Logistics Review.

Đồng chí Trần Quốc Vượng: “Cần quản lý hầm đường bộ Đèo Cả – an toàn, thông suốt và hiệu quả”

Nhân chuyến công tác tại tỉnh Phú Yên, chiều 4.7.2018, đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã đến thăm và làm việc với cán bộ – công nhân viên Công ty Cổ phần Đầu tư Đèo Cả đang làm nhiệm vụ quản lý, vận hành hầm đường bộ Đèo Cả (hầm Đèo Cả). Cùng đi có đồng chí Huỳnh Tấn Việt, Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Phú Yên và các đồng chí trong đoàn công tác Trung ương Đảng.

Hầm Đèo Cả nằm giữa hai tỉnh Khánh Hòa – Phú Yên do Công ty Cổ phần Đầu tư Đèo Cả làm chủ đầu tư theo hình thức BOT. Công trình được khởi công vào tháng 11.2012 và hoàn thành đưa vào khai thác từ ngày 21.8.2017.

Dự án có tổng mức đầu tư ban đầu hơn 15.600 tỷ đồng. Trong quá trình triển khai khảo sát, Công ty Cổ phần Đầu tư Đèo Cả đã đề xuất điều chỉnh hướng tuyến, giảm chiều dài hai tuyến hầm từ 5,7km xuống còn 4,3km, giảm tổng mức đầu tư xuống còn hơn 11.000 tỷ đồng, tiết kiệm được 4.200 tỷ đồng và đưa công trình về đích trước 4 tháng so với kế hoạch.

Sau khi hầm Đèo Cả đưa vào khai thác, thời gian qua hầm chỉ còn hơn 10 phút, thay vì 45 phút đi bằng đường đèo; đảm bảo an toàn giao thông, xóa bỏ những điểm đen nguy hiểm, dễ xảy ra tai nạn trên đường đèo quanh co hiểm trở. Ngoài ra còn giúp nâng cao năng lực vận tải đường bộ, tạo thuận lợi cho lưu thông giữa miền Trung và khu vực phía Nam Trung bộ, nhất là giữa 2 tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa. Hầm đường bộ Đèo Cả là một trong 5 công trình được được Bộ Xây dựng chọn gắn biển Công trình tiêu biểu Quốc gia năm 2018.

Đồng chí Trần Quốc Vượng thăm Trung tâm Quản lý vận hành hầm Đèo Cả

Trong thời gian thi công, vào đầu tháng 5.2016 công trình hầm Đèo Cả đã vinh dự được đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến thăm, động viên. Tổng Bí thư đã biểu dương nhà đầu tư trong việc đứng ra đảm nhận thực hiện dự án hầm Đèo Cả bằng hình thức BOT và nhấn mạnh, việc đầu tư hạ tầng giao thông bằng hình thức BOT là một chủ trương đúng đắn, cần thiết và nhất quán của Đảng và Chính phủ nhằm huy động nguồn lực xã hội hóa trong điều kiện ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, trong một lần đến thăm công trình cũng đã khẳng định sự tin tưởng của Đảng, Chính phủ đối với dự án này. Thủ tướng cho rằng, đây là công trình lớn và có ý nghĩa hết sức quan trọng về kinh tế – xã hội khi lần đầu tiên một doanh nghiệp Việt Nam đã chủ động nguồn vốn, nghiên cứu ứng dụng và làm chủ công nghệ thi công đường hầm, đạt các tiêu chí kỹ thuật và chất lượng quốc tế.

Sau khi đi thị sát hầm Đèo Cả và hầm Cổ Mã (thuộc dự án hầm Đèo Cả), đồng chí Trần Quốc Vượng cùng đoàn công tác đã đến thăm Trung tâm quản lý vận hành hầm Đèo Cả. Phát biểu với CB-CNV tại đây, đồng chí Trần Quốc Vượng đã biểu dương ghi nhận ý chí, tính sáng tạo và sự cống hiến to lớn Công ty Cổ phần Đầu tư Đèo Cả trong việc đầu tư BOT dự án có quy mô lớn này. Đồng chí cũng khẳng định Đảng và Chính phủ luôn quan tâm, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút nhà đầu tư đứng ra đảm nhận các dự án hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông theo hình thức BOT. Đồng thời đề nghị Công ty Cổ phần Đầu tư Đèo Cả tiếp tục làm tốt công tác quản lý, vận hành và khai thác có hiệu quả; đảm bảo giao thông luôn an toàn, thông suốt và thuận lợi cho hầm đường bộ Đèo Cả nói riêng và các hầm đường bộ khác do Công ty đảm trách.

Theo: Vietnam Logistics Review.

Vận tải hàng hóa 6 tháng đầu năm 2018 tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2017

Theo số liệu mới công bố của Tổng cục Thống kê, vận tải hàng hóa tháng 6/2018 ước tính đạt 136,3 triệu tấn, tăng 0,9% so với tháng trước và 25,4 tỷ tấn.km, tăng 1%.

Tính chung 6 tháng, vận tải hàng hóa đạt 796,2 triệu tấn, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước và 147,9 tỷ tấn.km, tăng 6,6%, trong đó vận tải trong nước đạt 779,4 triệu tấn, tăng 9,5% và 79,6 tỷ tấn.km, tăng 9,7%; vận tải ngoài nước đạt 16,8 triệu tấn, tăng 2,3% và 68,3 tỷ tấn.km, tăng 3,2%.

Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 614,5 triệu tấn, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước và 40,5 tỷ tấn.km, tăng 10,4%; đường thủy nội địa đạt 140,7 triệu tấn, tăng 7,4% và 29,7 tỷ tấn.km, tăng 7%; đường biển đạt 38 triệu tấn, tăng 4,4% và 75,4 tỷ tấn.km, tăng 4,3%; đường hàng không đạt 176,4 nghìn tấn, tăng 14,8% và 463,2 triệu tấn.km, tăng 13,2%; đường sắt đạt 2,9 triệu tấn, tăng 4,1% và 1,9 tỷ tấn.km, tăng 13,5%.

Vận tải hành khách tháng Sáu ước tính đạt 387,9 triệu lượt khách, tăng 1,5% so với tháng trước và 17,4 tỷ lượt khách.km, tăng 2,4%.

Tính chung 6 tháng đầu năm, vận tải hành khách đạt 2.262,4 triệu lượt khách, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước và 100,2 tỷ lượt khách.km, tăng 10,6%, trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 2.134,8 triệu lượt khách, tăng 10,1% và 69,5 tỷ lượt khách.km, tăng 10,5%; đường thủy nội địa đạt 94,9 triệu lượt khánh, tăng 5,9% và 1.797,8 triệu lượt khách.km, tăng 6%; đường biển đạt 3,6 triệu lượt khách, tăng 6,1% và 216,3 triệu lượt khách.km, tăng 6,7%; đường hàng không đạt khá với 24,6 triệu lượt khách, tăng 15,2% và 26,7 tỷ lượt khách.km, tăng 12,5% do hiện nay các hãng hàng không đã mở thêm một số đường bay quốc tế, đồng thời đẩy mạnh khai thác thị trường nội địa.

Vận tải đường sắt trong thời gian gần đây xảy ra nhiều tai nạn nghiêm trọng, cùng với việc giá vé tàu không cạnh tranh được với hàng không giá rẻ và vận tải ô tô đường bộ nên 6 tháng ước tính đạt 4,5 triệu lượt khách, giảm 10,6so với cùng kỳ năm trước và 1,9 tỷ lượt khách.km, giảm 4,5%.

 

Nguồn: logistics.gov.vn

Blockchain cách mạng hóa vận tải đường biển

Toàn cầu hóa đã cho ra đời các mạng lưới thương mại tiên tiến với các tàu chở hàng lớn và nhanh, các cảng điều khiển bằng robot, các cơ sở dữ liệu máy tính theo dõi hàng hóa khổng lồ. Tuy vậy, tất cả vẫn dựa trên hàng triệu hồ sơ giấy.

Quy trình xử lý hồ sơ thương mại từ thế kỷ 19 này sắp đến hồi kết. A P Moeller-Maersk A/S và các hãng tàu container khác đã hợp tác với các công ty công nghệ nhằm nâng cấp mạng lưới logistics phức tạp nhất thế giới.

Kết quả là một cuộc cách mạng trong thương mại toàn cầu diễn ra trên quy mô chưa từng thấy kể từ bước chuyển sang container tiêu chuẩn những năm 1960 – một sự thay đổi đánh dấu thời đại toàn cầu hóa. Nhưng quá trình thực hiện cũng phức tạp như biến động tiềm năng to lớn mà nó mang lại. Để tạo ra thay đổi, hàng chục hãng tàu và hàng ngàn doanh nghiệp có liên quan trên khắp thế giới – bao gồm các nhà sản xuất, ngân hàng, công ty bảo hiểm, môi giới và quản lý cảng biển – sẽ phải tìm ra một giao thức có thể tích hợp tất cả các hệ thống mới vào một nền tảng chung khổng lồ.

Nếu họ thành công, tài liệu cần vài ngày sẽ được xử lý chỉ trong vài phút, phần lớn không cần sự can thiệp của con người. Chi phí vận chuyển hàng hóa xuyên châu lục sẽ giảm đáng kể, thêm động lực để di dời sản xuất hoặc nguyên liệu và hàng hóa từ nước ngoài.

Ông Rahul Kapoor, một chuyên gia phân tích tại Bloomberg Intelligence, Singapore cho biết:    “Đây sẽ là cải tiến lớn nhất trong ngành công nghiệp kể từ cách mạng container. Về cơ bản nó thúc đẩy sự minh bạch và hiệu quả. Các hãng tàu container đang dần ra khỏi vỏ ốc và cố gắng bắt kịp với công nghệ.”

Cũng như trong nhiều ngành công nghiệp khác, từ tàu chở dầu đến tiền điện tử, chính là blockchain – hệ thống kế toán điện tử tự động xác minh giao dịch và lợi ích sẽ không chỉ gói gọn trong hoạt động giao nhận đường biển. Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới, sử dụng blockchain để cải thiện thông tin liên lạc và quản trị biên giới có thể tạo ra thêm 1 nghìn USD cho thương mại toàn cầu.

Công ty APL Ltd. thuộc sở hữu của hãng container lớn thứ ba thế giới CMA CGM SA, cùng với AnheuserBusch InBev NV, Accenture Plc (một tổ chức hải quan châu Âu) và các công ty khác cho biết họ đã thử nghiệm một nền tảng dựa trên blockchain vào tháng ba. Công ty Hyundai Merchant Marine, Hàn Quốc cũng đã thử nghiệm nền tảng mới trên hệ thống phát triển cùng Công ty Samsung SDS.

Quá trình xử lý hồ sơ giao nhận bắt đầu khi chủ hàng đặt chỗ trên tàu chuyển hàng. Hồ sơ cần được điền đầy đủ và phê duyệt trước khi hàng hóa được chuyển vào hoặc ra khỏi cảng. Chỉ một lô hàng cũng có thể cần đến hàng trăm trang, gửi đến hàng chục cơ quan, ngân hàng, cơ quan hải quan và các tổ chức khác.

Năm 2014, Maersk theo dấu một contrainer lạnh vận chuyển hoa hồng và bơ từ Kenya đến Hà Lan. Công ty ghi nhận có gần 30 người và tổ chức tham gia vào việc xử lý kiện hàng trên hành trình đến châu Âu. Kiện hàng mất khoảng 34 ngày để đi từ trang trại đến các nhà bán lẻ, bao gồm 10 ngày chờ xử lý tài liệu. Một trong những hồ sơ quan trọng bị thất lạc và sau đó được tìm thấy nằm lẫn trong các giấy tờ khác.

“Các thủ tục giấy tờ quan trọng trong thương mại toàn cầu cũng chính là một trong những gánh nặng của nó – theo Maersk, công ty vận tải container lớn nhất thế giới. Maersk đã hợp tác với International Business Machines Corp để cho phép theo dõi hàng hóa và tài liệu theo thời gian thực sử dụng blockchain. “Nghiên cứu về thủ tục hồ sơ do Maersk tiến hành cho thấy mức độ ảnh hưởng mà tài liệu và thủ tục giấy tờ gây ra cho thương mại và hậu quả của chúng.”

Thủ tục giấy tờ rườm rà là một trong những lý do khiến vận chuyển hàng hóa đường biển chậm chuyển đổi sang các hình thức điện tử hơn so với các ngành công nghiệp khác. Khác biệt ngôn ngữ, điều luật và sự đa dạng các tổ chức có liên quan trong quá trình chuyển hàng trong quá khứ cũng làm chậm quá trình tiêu chuẩn hóa.

Thay vào đó, ngành công nghiệp dựa vào những tiến bộ trong công nghệ vận tải và xử lý hàng hóa để nâng cao hiệu quả, ví dụ như thuyền buồm cao tốc được thay thế bằng tàu hơi nước và sau đó là các tàu thủy hiện đại chạy bằng dầu – loại tàu lớn nhất trên biển. Vào những năm 1850, các rương chè từ miền nam Trung Quốc đến London cần hơn ba tháng để vận chuyển. Hiện nay, hành trình đó chỉ mất khoảng 30 ngày.

Thay đổi lớn nhất diễn ra vào những năm 1960, khi ngành công nghiệp chuyển sang sử dụng các hộp thép kích thước tiêu chuẩn như ngày nay, thay thế các thùng gỗ, rương và bao tải mà nhân công phải bốc xếp lên tàu trong nhiều thế kỷ.

Việc chuyển đổi sang một hệ thống điện tử thống nhất đề ra những thách thức lớn, khi mà những container này đôi khi chứa sản phẩm từ các nhà cung cấp khác nhau và được vận chuyển đến hàng ngàn khách hàng ở hàng chục quốc gia.

Công ty APL cho biết: “Không phải tất cả các bên liên quan đều triển khai cùng một giải pháp và nền tảng blockchain, và đây có thể là một thách thức nếu các bên cần tiến hành giao dịch thông qua một nền tảng hoặc giải pháp chung.”

Các hãng tàu cần phải thuyết phục các cảng và tổ chức có liên quan áp dụng hệ thống của họ. Maersk cho biết nhà điều hành cảng tại Singapore PSA International Pte. và APM Terminals có trụ sở tại The Hague, Hà Lan sẽ sử dụng nền tảng của họ để giao dịch. APL và Accenture cho biết họ có kế hoạch chạy thử sản phẩm vào cuối năm nay. Accenture cho biết đã thử nghiệm công nghệ này với các lô hàng thí điểm khác, từ bia đến vật tư y tế.

Ông Kapoor từ Bloomberg Intelligence còn cho biết các khoảng tiết kiệm chi phí có thể nhìn thấy được trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp sau hai năm áp dụng công nghệ mới.

K D Adamson, Giám đốc điều hành của Futurenautics Group cho biết: “Ngành vận chuyển đường biển đừng nghĩ rằng mình chỉ là mảng trung gian độc lập, mà thay vào đó hãy xem xét làm cách nào tích hợp hài hòa các yếu tố của ngành vào các hệ sinh thái khác.”

Theo: economictimes.indiatimes.com

Xu hướng đi lên của thị trường logistics 3PLs Mỹ năm 2018

Theo báo cáo gần đây của hãng tư vấn chuỗi cung ứng Armstrong & Associates, các điều kiện thị trường tốt và các yếu tố nền tảng kinh tế tích cực đã giúp thị trường logistics bên thứ 3 (3PLs) của Mỹ tăng trưởng mạnh trong năm 2017 và tiếp tục xu hướng này trong năm 2018.

Báo cáo “Xu hướng đi lên của thị trường logistics 3PLs Mỹ năm 2018”  cho thấy doanh thu thuần năm 2017 của thị trường 3PLs của Mỹ tăng 5% lên 77,1 tỷ đô la, còn tổng doanh thu gộp tăng 10,5% lên 184,3 triệu đô la.

Doanh thu vận chuyển hợp đồng chuyên dụng (DCC) tăng 10,2%, cao hơn mức tăng trưởng hàng năm 7% từ năm 1995 trở lại và chủ yếu do tăng trưởng ở lĩnh vực đường bộ.

Doanh thu gộp vận tải nội địa của Mỹ tăng 16%, đạt mức 71,7 tỷ đô la với doanh thu thuần tăng 6,4% lên 10,9 tỷ đô la. Sự chênh lệch về tốc độ tăng trưởng phản ánh mức độ biên lợi nhuận gộp liên quan đến tốc độ tăng tải của xe tải trong quý 3 và quý 4 năm 2017 yêu cầu các nhà môi giới vận chuyển hàng hóa phải trả mức tăng cước cho các hãng vận tải nhanh hơn là họ có thể thương lượng tăng với các chủ hàng.

Doanh thu gộp vận tải quốc tế tăng 10,5% nhưng doanh thu thuần chỉ tăng 4,3%, chủ yếu do sự tăng trưởng thấp hơn của lĩnh vực hàng không.

Doanh thu gộp của hoạt động phân phối và kho, bãi (có giá trị gia tăng) và doanh thu thuần đều tăng 2,5%, lợi nhuận biên bị tác động bởi năng lực kho bãi.

Xu hướng thuận lợi tiếp tục trong năm 2018, doanh thu thuần lĩnh vực 3PLs dự báo sẽ tăng trưởng khoảng  5% còn doanh thu gộp tăng khoảng 10%. Một số công ty 3PLs đang tiếp tục đầu tư thêm xe tải, bất chấp quan ngại thị trường sẽ đi xuống trong năm 2019 theo chu kỳ, sau khi đã tăng trưởng tốt trong 2 năm trước đó và áp lực cạnh tranh trên thị trường lớn hơn.

Theo: logistics.gov.vn

Cải cách hành chính: Kỳ vọng đột phá cho ngành logistics

Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, hàng loạt Bộ ngành đã vào cuộc cắt giảm các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh. Đây được xem là bước tiến đáng kể thúc đẩy phát triển kinh tế nói chung và là kỳ vọng cho ngành logistics có bước đột phá trong tương lai gần.

Những tín hiệu mừng

Theo các chuyên gia, hoạt động logistics có liên quan đến nhiều ngành, chịu tác động của nhiều yếu tố như hạ tầng, nguồn nhân lực, công nghệ, thể chế… Vì vậy đi cùng với đầu tư hoàn thiện hạ tầng, Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ ngành, trong đó có Bộ Công Thương, Tài chính, Giao thông vận tải… đẩy mạnh cải cách hành chính, cắt giảm thủ tục hành chính để tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp phát triển.

Tiếp nối kết quả của năm 2017, mới đây Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 1408/QĐ-BCT phê duyệt Phương án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính năm 2018. Theo đó cắt giảm, đơn giản hóa tiếp 54 thủ tục hành chính đối với 10 lĩnh vực, tại 19 văn bản quy phạm pháp luật, gồm 10 Thông tư, 1 Thông tư liên tịch, 1 Quyết định của Thủ tướng và 7 Nghị định, góp phần nâng tổng số điều kiện, thủ tục cắt giảm là 729 điều kiện, chiếm tới gần 60% tổng các điều kiện đầu tư kinh doanh do Bộ Công Thương quản lý.

Cũng trong tháng 4.2018, Bộ Giao thông vận tải đã có Quyết định số 767/QĐ – BGTVT ngày 17.4.2018  công bố phương án cắt giảm, đơn giản 384/570 điều kiện kinh doanh, tương đương 67,36% các quy định về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực giao thông vận tải. Cụ thể, lĩnh vực hàng không cắt giảm, đơn giản lên tới 74,36%, kế đến là đường sắt với 73,08%, đường bộ là 68,5%, đường thủy là 67,34%, hàng hải 65,08%, kinh doanh dịch vụ vận tải đa phương thức và kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng nguy hiểm 61,74%…

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, trong giai đoạn từ 2014 đến 31.3.2018, Bộ đã thực hiện rà soát cắt giảm, đơn giản hóa 1.072 thủ tục hành chính của ngành Tài chính (thuế, hải quan, kho bạc, chứng khoán và các lĩnh vực tài chính khác).

Đặc biệt trong 2 lĩnh vực quan trọng là thuế và hải quan, Bộ Tài chính đã chỉ đạo quyết liệt việc cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính. Theo đó, ngành Thuế đã cắt giảm được 244/542 thủ tục hành chính – đơn giản hóa 834 thủ tục hành chính; ngành hải quan đã cắt giảm được 84/246 thủ tục hành chính – đơn giản hóa 479 thủ tục hành chính.

Nhìn chung, việc cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư, kinh doanh được căn cứ trên các nguyên tắc chuyển đổi phương thức quản lý nhà nước bằng việc chuyển dần sang hậu kiểm; phù hợp với các cam kết quốc tế; đáp ứng các tiêu chí theo quy định của pháp luật hiện hành cũng như điều kiện nguồn lực thực tế của Việt Nam.

Có thể nói, những quyết định cắt giảm mạnh mẽ, các Bộ, ngành theo hướng công khai minh bạch thông tin đã tác động mạnh mẽ tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, thúc đẩy xuất nhập khẩu, cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư… góp phần quan trọng hướng tới một Chính phủ kiến tạo phát triển, phục vụ.

Tạo động lực phát triển

Trong nhiều cuộc họp Chính phủ, hội nghị với doanh nghiệp gần đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đều nhấn mạnh, mục tiêu của nhiệm kỳ là hoàn thiện thể chế, trong đó có nội dung cải cách hành chính toàn diện. Trên thực tế, kết quả từ hoạt động cải cách quyết liệt đã có tác động tích cực lên nền kinh tế. Điều này minh chứng bằng những con số tăng trưởng GDP, kim ngạch xuất khẩu…

Đơn cử như năm 2017, lần đầu tiên kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt trên 400 tỷ USD, trong đó xuất khẩu tăng trên 20%. Báo cáo của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho thấy, 4 tháng đầu năm 2018, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước đạt 73,76 tỷ USD, tăng 19% so với cùng kỳ năm 2017; kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước đạt 70,37 tỷ USD, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 4.2018, cả nước tiếp tục xuất siêu 700 triệu USD, nâng mức xuất siêu sau 4 tháng đạt 3,39 tỷ USD.

Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực, song nhiều chuyên gia, doanh nghiệp cho rằng, việc cắt giảm, đơn giản thủ tục hành chính cần đi vào thực chất, chứ không phải gộp lại mang tính cơ học. Bởi lẽ, suy cho cùng mọi cải cách phải hướng tới mục tiêu cắt giảm chi phí, thời gian và tăng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Tại Hội nghị toàn quốc về logistics, các giải pháp giảm chi phí, kết nối hiệu quả hệ thống hạ tầng giao thông được tổ chức trong tháng 4.2018, Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh “Chi phí logistics cao là rào cản, gánh nặng cho doanh nghiệp và sẽ nhấn chìm “con tàu” kinh tế của Việt Nam”.

Đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy, chi phí logistics của Việt Nam vào khoảng 20% – 21% GDP, đứng thứ 4 trong số các nước ASEAN. Nếu tính theo tỷ trọng GDP, chi phí logistics của Việt Nam cao gần gấp đôi so với các nền kinh tế phát triển và cao hơn mức bình quân toàn cầu 14%.

Trên thực tế, các DN không chỉ chịu nhiều loại thuế, phí cao theo quy định mà còn “ám ảnh” về những khoản chi phí không chính thức với hàng loạt thủ tục rườm rà, phức tạp. Đơn cử như chi phí thẩm định xác nhận nguồn gốc nguyên liệu thủy sản đã giảm từ 700.000 đồng/lần xuống còn 630.000 đồng/ lần. Nhưng theo tính toán của một DN chế biến cá ngừ, trong 1 năm, DN này cần tới 1.200 lần xác nhận với chi phí thẩm định là 756 triệu đồng/năm. Hay như chi phí kiểm nghiệm chất lượng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Theo quy định hiện hành, mỗi năm, một DN sản xuất mặt hàng này phải chi khoảng 300 triệu đồng cho việc kiểm nghiệm chất lượng nguyên liệu. Do thời gian kiểm tra thực tế thường kéo dài từ 2 – 3 ngày, nên ngoài phí kiểm nghiệm, DN còn phải chịu khoản chi phí lưu kho, lưu bãi rất lớn.

Các chuyên gia cho rằng, với tốc độ phát triển bình quân hàng năm của ngành logistics Việt Nam khoảng 14% – 16%, là một trong những ngành dịch vụ tăng trưởng đều và vững chắc của Việt Nam trong thời gian qua và con số này có thể còn cao hơn nữa nếu công tác cải cách hành chính đi vào thực chất hơn.

Dẫu rằng còn nhiều việc phải làm nhưng với những kết quả đã đạt được, đặc biệt là sự quan tâm vào cuộc của Chính phủ, chúng ta hoàn toàn có thể kỳ vọng vào một tương lai sáng hơn, để đưa logistics trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội đất nước.

Theo: Vietnam Logistics Review

Singapore phát triển Smart Logistics

Do tỷ lệ sử dụng internet của người dân Singapore hiện đã trên 86% nên thị trường này rất tiềm năng cho các kênh bán hàng trực tuyến và ngoại tuyến để phát triển hoạt động bán hàng đa kênh. Điều này đòi hỏi một thế hệ mới của các mạng lưới logistics cho phép một kênh tích hợp duy nhất của dòng sản phẩm.

Là một phần trong kế hoạch Smart Nation của Singapore, sáng kiến ​​Smart Logistics đã vạch ra con đường cho sự phát triển của ngành logistics tiên tiến ở Singapore. Kế hoạch này nhằm khai thác một bộ công nghệ mới và phát triển để cho phép các chủ hàng và các nhà cung cấp dịch vụ logistics của bên thứ ba đạt được tầm nhìn rộng hơn trong chuỗi cung ứng của họ và chia sẻ tài nguyên để tạo ra các mạng logistics hiệu quả hơn.
Cùng với việc cải thiện kết quả kinh doanh của khách hàng, công nghệ Smart Logistics có thể giảm đáng kể chi phí cho các nhà cung cấp dịch vụ logistics tại Singapore, với mức tiết kiệm hàng năm dự kiến ​​cho ngành logistics của Singapore đạt khoảng 56 triệu USD.

Sáng kiến ​​Smart Logistics tìm cách tận dụng các công nghệ mới trong kho vận hàng hóa toàn cầu để thúc đẩy các chuỗi cung ứng hiệu quả từ đầu đến cuối nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng trong nhiều năm tới.

Bước đầu tiên sẽ là giải quyết những hạn chế trong các mạng lưới phân phối hiện có thông qua việc sử dụng phân tích dữ liệu để tăng cường sự hợp tác giữa các công ty vận chuyển hàng hóa. Trao đổi dữ liệu mới sẽ chia sẻ thông tin về các tuyến giao hàng, loại hàng hóa và lịch giao hàng giữa các công ty, cơ quan chính phủ và nhà cung cấp dịch vụ logistics, với mục tiêu tối ưu hóa quy trình phân phối.

Ví dụ, các công ty có thể chọn sử dụng mạng trao đổi dữ liệu để điều phối lịch giao hàng của họ đến các múi giờ đã chọn và chia sẻ các phương tiện giao hàng, tài xế và kho để cắt giảm chi phí và tăng hiệu quả.

Một vấn đề khác cần giải quyết là khả năng theo dõi thời gian thực để giám sát hàng hóa nhạy cảm trong quá trình vận chuyển, dẫn đến mất hàng tồn kho và sự chậm trễ thực hiện. Sáng kiến ​​Smart Logistics nhằm mục đích giải quyết vấn đề này bằng cách thiết lập các mạng cảm giác ở các sân bay và cảng biển sẽ sử dụng cảm biến nhận dạng tần số vô tuyến (RFID) để theo dõi tình trạng hàng hóa trong thời gian thực.

Điều này sẽ cung cấp cho chủ hàng và các nhà cung cấp dịch vụ logistics tăng cường sức mạnh theo dõi và truy tìm trên toàn bộ chuỗi cung ứng và cho phép họ theo dõi các điều kiện môi trường cho hàng hóa nhạy cảm trong quá trình vận chuyển.

Các công nghệ logistics thông minh sẽ có thể xác định các vấn đề chuỗi cung ứng và can thiệp trong thời gian thực gần để giải quyết sự chậm trễ thực hiện, ngăn chặn mất hàng tồn kho thông qua thiệt hại trong quá trình vận chuyển và loại bỏ nhu cầu giữ hàng tồn kho dư thừa trong chuỗi cung ứng. Các lô hàng được giám sát cũng được dự kiến ​​sẽ giảm chi phí bảo hiểm cho các công ty do rủi ro vận chuyển hàng hóa thấp hơn.
Loại bỏ lỗi của con người và giảm bớt sự tiêu hao nguồn nhân lực trong nhà kho là một lĩnh vực khác mà sáng kiến ​​Smart Logistics đang xem xét.
Internet of Things (IoT) cũng sẽ đóng một vai trò trung tâm như thiết bị kho kết nối internet như pallet và xe nâng hàng giảm gánh nặng cho các bộ xử lý mặt đất để theo vị trí, điều kiện và trạng thái của hàng hóa nhập và xuất
Logistics thông minh trong thực tế.

Trong khi các mạng cảm biến được trang bị RFID và trao đổi dữ liệu vẫn là các khái niệm đang được phát triển như là một phần của sáng kiến ​​Smart Logistics trên toàn quốc, các công ty quản lý chuỗi cung ứng lớn đang khai thác tiềm năng hậu cần thông minh.

Một ví dụ là Mobility Suite của CEVA Logistics – một ứng dụng điện thoại thông minh đa nền tảng đi kèm với các tính năng như các mốc thời gian thực, chữ ký điện tử, hiệu suất phân phối, tính khả dụng của trình điều khiển, trạng thái chuyến đi, khả năng hiển thị vị trí hiện tại, công văn động, bảng điều khiển di động và báo cáo, danh sách kiểm tra điện tử, biên nhận giao hàng và quản lý luồng công việc cũng như phát hiện và loại bỏ hàng hóa bị hỏng.

Nguồn: logistics.gov.vn

Chuỗi cung ứng dịch vụ

Một phần quan trọng trong nỗ lực cạnh tranh của mọi doanh nghiệp (DN) trên thị trường ngày nay là thiết kế mạng lưới cung cấp và phân phối. Lý thuyết quản trị chuỗi cung ứng đã được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực sản xuất và mang lại hiệu quả trong tối ưu hóa chi phí và chất lượng. Điều này không chỉ đúng đối với các công ty sản xuất, mà còn đúng với các công ty dịch vụ.

Đặc điểm và cấu trúc cơ bản của chuỗi cung ứng dịch vụ

Hiểu đơn giản, chuỗi cung ứng dịch vụ là một mạng lưới các nhà cung cấp, các nhà tích hợp dịch vụ, người tiêu dùng và các đơn vị hỗ trợ khác thực hiện chức năng và sử dụng các nguồn lực cần thiết để sản xuất dịch vụ; chuyển đổi các nguồn lực thành dịch vụ hỗ trợ dịch vụ cốt lõi; và cung cấp các dịch vụ này cho khách hàng.

Mỗi dịch vụ kinh doanh có thể phân chia thành một số khâu/hoạt động liên tục mà các nhà cung cấp dịch vụ có thể xử lý và thực hiện. Điều này cho phép có nhiều nhà cung cấp dịch vụ cùng tham gia vào chuỗi cung ứng để tăng tính chuyên môn hóa và hiệu quả của chuỗi.

Không xuất hiện luồng vật liệu và hoạt động dự trữ trong chuỗi cung ứng dịch vụ. Do đặc điểm cơ bản của dịch vụ là vô hình và không lưu trữ được nên các chuỗi cung ứng dịch vụ phần lớn hình thành từ sự kết nối các thông tin về nhu cầu và khả năng cung ứng. Dịch vụ sẽ được tiêu dùng ngay khi được tạo ra nên cũng không tồn tại hoạt động dự trữ.

Nguồn lực cơ bản của chuỗi cung ứng dịch vụ là kỹ năng lao động lành nghề. Năng lực chuỗi cung ứng dịch vụ thể hiện ở khả năng thỏa mãn nhu cầu khách hàng qua chất lượng dịch vụ cung ứng. Khả năng này lại phụ thuộc chủ yếu ở kỹ năng phục vụ của nhân viên và trình độ quản lý của nhà quản trị để tạo ra chất lượng dịch vụ phù hợp. Do đó, kỹ năng lao động là nguồn lực cơ bản nhất để chuỗi cung ứng có được các dịch vụ chất lượng.

Các quyết định trong mọi chuỗi cung ứng dịch vụ có thể được phân loại theo ba cấp xét trên khía cạnh thời gian và hiệu quả. Các quyết định cấp cao nhất nằm trong lĩnh vực lập kế hoạch kinh doanh dịch vụ. Có tác động lâu dài đến chuỗi cung ứng dịch vụ như lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ, lập kế hoạch năng lực, cung cấp dịch vụ, chất lượng dịch vụ, năng suất dịch vụ. Các quyết định cấp hai là mức chiến thuật như lập kế hoạch năng lực, chi phí nhà cung cấp, định giá, dự báo. Các quyết định cấp ba là kế hoạch hoạt động, tác động của các quyết định này là ngắn hạn và bị chi phối bởi các quyết định cấp cao hơn. Ví dụ như lập kế hoạch nhân viên, dự báo ngắn hạn, phân bổ nguồn lực, phương thức nhập đơn đặt hàng dịch vụ, đường dẫn lệnh dịch vụ khách hàng, sử dụng năng suất, tỷ lệ vận hành của giờ làm việc theo kế hoạch,…

Các chuỗi cung ứng dịch vụ thường có cấu trúc mạng lưới phức tạp, kết hợp các nhà cung cấp dịch vụ trực tiếp và gián tiếp xung quanh người hợp nhất dịch vụ. Trong chuỗi cung ứng dịch vụ giáo dục, các thành viên là nhà cung cấp (cung cấp dịch vụ giáo dục và nghiên cứu), nhà cung cấp dịch vụ (trường đại học) và khách hàng (sử dụng dịch vụ giáo dục và nghiên cứu). Trong chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch thì khách du lịch, nhà điều hành tour du lịch và các nhà cung cấp dịch vụ tạo thành chuỗi cung ứng hoàn chỉnh. Chuỗi cung ứng chăm sóc sức khỏe bao gồm các bệnh nhân, các trung tâm chăm sóc sức khỏe và các nhà cung cấp dịch vụ có liên quan. Trong thực tế, do tính đa dạng của dịch vụ mà có nhiều cách nhìn nhận cấu trúc chuỗi cung ứng dịch vụ khác nhau.

Căn cứ vào việc phân phối các loại hình dịch vụ khác nhau, cấu trúc của chuỗi cung ứng dịch vụ có thể được chia thành ba dạng: chuỗi cung ứng dịch vụ liên tục, chuỗi cung ứng dịch vụ song song, và chuỗi cung ứng dịch vụ kết hợp.

Một chuỗi cung ứng dịch vụ điển hình có cấu trúc cơ bản là nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp, nhà tích hợp dịch vụ, người tiêu dùng cuối cùng và các thành viên trong chuỗi tham gia vào toàn bộ quá trình dịch vụ. Trong chuỗi cung ứng dịch vụ, khách hàng cũng được coi là nhà cung cấp, bên cạnh đó, do dịch vụ là vô hình, nên không có luồng vật liệu liên kết giữa các yếu tố này; trên thực tế chúng chỉ được kết nối bằng thông tin. (Xem hình 1).

Hình 1: Cấu trúc chuỗi cung ứng dịch vụ  (Baltacioglu Et Al)

Quy trình vận hành chuỗi cung ứng dịch vụ

Hoạt động quản lý chuỗi cung ứng dịch vụ tập trung vào sáu quy trình cơ bản: Quản lý luồng thông tin và kỹ thuật; Quản lý nguồn tài nguyên và năng lực; Quản lý nhu cầu; Quản lý quan hệ khách hàng; Quản lý quan hệ nhà cung cấp; Quản lý cung ứng dịch vụ và thanh toán đơn hàng. Các quy trình này được kết nối chặt chẽ trên nền tảng công nghệ thông tin của chuỗi cung ứng dịch vụ.

Khi chuỗi cung ứng dịch vụ vận hành, các thành phần trong chuỗi phải được phối hợp với nhau để đáp ứng các yêu cầu khách hàng tốt nhất. Vai trò phối hợp chuỗi cung ứng thuộc về nhà tích hợp dịch vụ, đây được xem là thành phần cốt lõi của một chuỗi cung ứng dịch vụ. Trong các chuỗi cung ứng dịch vụ, nhu cầu khách hàng thường có mức tùy chỉnh cao, mỗi yêu cầu dịch vụ riêng lẻ của họ sẽ được chuyển đến nhà tích hợp dịch vụ. Nhà tích hợp dịch vụ có trách nhiệm quản lý nhu cầu của khách hàng thông qua năng lực và quy trình quản lý nhu cầu. Nhà tích hợp sử dụng năng lực và nguồn lực của mình để thực hiện các hoạt động dịch vụ và cung cấp dịch vụ cho khách hàng cuối cùng.

Nếu nhà tích hợp dịch vụ không đủ khả năng phục vụ, như trong hầu hết các trường hợp, các dịch vụ sẽ được thuê ngoài, trách nhiệm của nhà tích hợp là quản lý năng lực cung ứng của các nhà cung ứng được chọn. Phương pháp và cách thức chọn nhà cung cấp dịch vụ có chuyên môn để thực hiện các khâu/ hoạt động dịch vụ theo yêu cầu cũng thuộc về năng lực quản lý của nhà tích hợp dịch vụ. (Xem hình 2)

Hình 2. Mô hình phối hợp trong chuỗi cung ứng dịch vụ

Khi các nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp đưa ra các giải pháp dịch vụ, chúng cần phải được tích hợp và tùy biến theo yêu cầu của khách hàng, nhiệm vụ này cũng được thực hiện bởi nhà tích hợp dịch vụ. Gói dịch vụ tùy chỉnh sẽ được phân phối cho khách hàng cuối cùng thông qua một hệ thống phân phối dịch vụ được quản lý tốt, đây là hoạt động cốt lõi của nhà tích hợp dịch vụ. Nhà tích hợp dịch vụ phải có đủ năng lực cộng tác và điều phối các hoạt động khác nhau để cung cấp các dịch vụ cho khách hàng vào thời điểm cần thiết một cách hiệu quả, tiết kiệm chi phí và duy trì tính linh hoạt cho bất kỳ sự thay đổi nào.

Theo: Vietnam Logistics Review