Ngành da giày hướng tới xác lập chuỗi liên kết nội địa

Thị trường nội địa – tiềm năng còn bỏ ngỏ

Bà Trương Thị Thu Hà, Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nhẹ (Bộ Công Thương) cho biết, hiện nay, ngành công nghiệp da giày và túi xách của Việt Nam với khoảng 800 công ty sản xuất được phân bố chủ yếu tại khu vực phía nam. Trong đó, DN có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 23%, đáp ứng hơn 65% kim ngạch xuất khẩu, DN trong nước chiếm 77% nhưng chỉ đáp ứng 35% kim ngạch xuất khẩu.

Đối với thị trường nội địa, theo bà Hà, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm giày dép trong nước khoảng 150 triệu đôi/năm, nhưng sản xuất trong nước mới đáp ứng được 40% nhu cầu. Sản phẩm giày dép “Made in Vietnam” tiêu thụ trên thị trường chủ yếu thuộc phân khúc thấp và trung cấp, phải chịu sự cạnh tranh quyết liệt từ mặt hàng cùng loại nhập khẩu từ Trung Quốc, các sản phẩm nhập ngoại chiếm tới 50-60% thị phần.

Trong khi đó, sản phẩm thuộc phân khúc cao cấp vẫn có nhưng ít và hiện bị lép vế trước các thương hiệu lớn trên thế giới. Mặt khác, sản phẩm của các DN ngay khi rời xưởng ra thị trường nội đã phải đối mặt với nạn hàng giả, hàng kém chất lượng. Vì vậy, những DN có quy mô lớn thường chọn giải pháp an toàn tập trung sản xuất hàng xuất khẩu, còn sản xuất hàng tiêu thụ nội địa chỉ dành cho DN nhỏ và vừa.

Ảnh minh họa

Xuất khẩu gặp khó

Theo Hiệp hội Da Giày Túi xách Việt Nam (Lefaso), Việt Nam nằm trong top 4 nước sản xuất giày dép lớn nhất thế giới về số lượng sau Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil, nhưng là nước xuất khẩu lớn thứ 3 trên thế giới về trị giá, sau Trung Quốc và Italy. Sản phẩm giày dép của Việt Nam đã xuất khẩu tới trên 50 nước, trong khi sản phẩm túi xách hiện đã có mặt tại trên 40 nước.

Ông Diệp Thành Kiệt, Phó Chủ tịch Lefaso cho biết, do dành tới 90% sản phẩm cho xuất khẩu nên việc suy thoái của kinh tế toàn cầu ảnh hưởng rất lớn đến ngành da giày và túi xách Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng của ngành da giày năm 2015 tăng khoảng 16% so với năm 2014, tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm 2016, chỉ đạt tốc độ trên 7%, riêng túi xách thì tốc độ vẫn đạt được gần 14%.

Theo đánh giá từ Lefaso, vừa qua, việc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu có khả năng gây thiệt hại tới kinh tế khu vực EU và nền kinh tế toàn cầu, do đó cũng sẽ gây tác động không nhỏ tới việc xuất khẩu da giày và túi xách trong thời gian tới.

Phó Chủ tịch Lefaso cho rằng, trong bối cảnh gặp khó khăn như hiện nay, để ngành da giày và túi xách Việt Nam có thể tăng trưởng ổn định trong thời gian tới, các DN cần có sự chuẩn bị tốt để tận dụng được tốt lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do (FTAs) mà Việt Nam đã ký kết và được dự báo là sớm có hiệu lực trong một vài năm tới.

Hình thành chuỗi liên kết nội địa

Tuy nhiên, để tận dụng được các lợi thế từ các FTA, các DN ngành da giày và túi xách Việt Nam phải đối mặt với vấn đề về xuất xứ hàng hóa, chất lượng hàng hóa; tuân thủ các điều khoản quy định về vệ sinh, môi trường, lao động và quy trình công nghệ. Điều này sẽ khiến cho các DN nhỏ và vừa của Việt Nam khó đáp ứng được yêu cầu do năng lực kỹ thuật và tài chính hạn chế, sản phẩm không đủ tiêu chuẩn để bán ra trên thị trường.

Để giải quyết những vướng mắc này, nhiều chuyên gia cho rằng, các DN Việt Nam cần tham gia vào chuỗi giá trị. Tuy nhiên, theo ông Kiệt, để tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, gần như DN Việt Nam ở thế bị động, chúng ta được chỉ định chứ không có được sự chủ động mình muốn được nằm ở khâu nào trong chuỗi và hiện số DN Việt Nam được tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng rất ít.

Tuy nhiên, các DN Việt Nam sẽ chủ động được nếu như cùng tham gia chuỗi liên kết nội địa. Trong chuỗi liên kết nội địa sẽ giúp DN đáp ứng được các quy tắc xuất xứ, chủ động được nguồn nguyên liệu, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa tại thị trường nội địa cũng như hướng tới xuất khẩu.

Ông Kiệt cho biết, ngày 15/7 tới đây, Lefaso sẽ cho ra mắt Trung tâm Lefaso Center. Vai trò của Trung tâm là cầu nối tạo nên sự liên kết giữa các DN trong ngành, trong đó chủ yếu là các DN nội địa, hướng tới xác lập chuỗi liên kết nội địa, bao gồm các nhà sản xuất máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu trong nước, qua đó tạo thế cạnh tranh cho DN nội địa và xuất khẩu.

Lefaso Center sẽ là Trung tâm tập trung cho ngành da giày và túi xách Việt Nam, nơi trưng bày nguyên phụ liệu của các DN, đặc biệt là các DN trong nước; đào tạo nguồn nhân lực cho ngành, hỗ trợ các DN vừa và nhỏ trong việc thiết kế, định giá hàng hóa… để các DN chuyên tâm, tập trung sản xuất.

Theo: Vietnam Logistics Review.

Digital Marketing nâng cao hiệu quả hoạt động logistics

Ngày nay, việc tìm kiếm thông tin, mua hàng trên internet là thói quen của rất nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ. Do đó, bán hàng online trở thành xu hướng bắt buộc cho các DN trong thời đại số. Những DN kinh doanh trong ngành logistics cũng không ngoại lệ.

Để phát huy hiệu quả chiến lược marketing trên internet, các DN cần chú trọng các vấn đề sau:

Đầu tư công cụ kinh doanh online hiệu quả

DN nên xem các chi phí dành cho marketing, truyền thông là chi phí đầu tư quan trọng và rất cần thiết trong quá trình phát triển. Với đầu tư công cụ và chiến dịch marketing online thì việc đánh giá hiệu quả không khó, bởi sự hỗ trợ của các công cụ đánh giá trực tuyến của các tập đoàn truyền thông hàng đầu thế giới như Google, Facebook… là rất tiện dụng. Những công cụ này khá quan trọng, cần đầu tư hiệu quả theo nguyên tắc: đúng – đẹp – hay.

Chúng ta phải phân tích yêu cầu marketing cụ thể về chiến lược nội dung (content strategy), hình ảnh và phong cách thể hiện phù hợp với khách hàng mục tiêu trước khi bắt tay vào thiết kế. Sau đó nâng tầm cái đẹp, cái đúng đó bằng những ý tưởng sáng tạo về nội dung, hình ảnh để mang lại cái hay, tạo cảm xúc cho khách hàng (người xem), tạo niềm tin để đạt được hiệu quả cao nhất cho việc đầu tư.

DN nên đầu tư hình ảnh, nội dung bằng việc thuê các chuyên gia, các angency uy tín tư vấn và thực hiện khi bước đầu tham gia vào mảng đầu tư này vì nó mang đến hiệu quả cao và tránh rủi ro không cần thiết.

Đầu tư các chiến dịch digital marketing

Khi DN đã tự tin với dịch vụ kinh doanh, tự tin vào các công cụ truyền thông online đã đầu tư thì việc quảng bá, đầu tư vào những chiến dịch marketing, truyền thông trực tuyến là rất cần thiết. Thông thường trong bán hàng trực tuyến chúng ta cần quan tâm các hành vi sau của khách hàng:

Để khách hàng tìm thấy thương hiệu, dịch vụ của DN

Với các dịch vụ, khách hàng mục tiêu là người chủ động, DN nên sử dụng các chiến dịch seach marketing bằng các từ khóa phù hợp với thói quen tìm kiếm của khách hàng. Các chiến dịch phổ biến để giải quyết vấn đề này là: Google Adwords, SEO…

Để thương hiệu luôn xuất hiện trước mặt khách hàng mục tiêu khi họ cần

Người Việt thường bị động trong những quyết định mua sắm, sử dụng dịch vụ, vì vậy, việc sử dụng các chiến lược quảng bá, quảng cáo trực tuyến là rất cần thiết giúp cho hình ảnh của DN luôn tồn tại trong mắt khách hàng. Các chiến dịch quảng bá trực tuyến DN thường sử dụng như: remarketing, facebook ads, đặt banner trên các trang tin điện tử, email marketing, sms marketing…

Tuy nhiên, DN phải có kế hoạch, chiến lược cụ thể cũng như đầu tư ý tưởng, content trước để việc xuất hiện này luôn được khách hàng yêu thích. Đừng “vô tư” để trở thành spam gây tác dụng ngược và không đạt được mục tiêu đầu tư.

Đầu tư vào chiến lược marketing online

Thông thường tại VN, các DN đầu tư vào digital marketing một cách tự phát, chủ yếu đầu tư vào công cụ chứ không đầu tư nhiều về chiến lược vì vậy hiệu quả chưa cao.

Digital marketing với sự hỗ trợ rất chi tiết từ các công cụ phân tích, đánh giá trực tuyến sẽ giúp DN có những số liệu chi tiết về hành vi của khách hàng khi tương tác trên online… Do đó, việc đầu tư vào chiến lược và phân tích kết quả của từng chiến dịch là cần thiết khi đầu tư vào online.

Việc hoạch định chiến lược, phân tích kết quả, điều chỉnh chiến thuật đạt kết quả tốt là một việc không dễ đối với nhiều DN. DN nên có một nhà tư vấn chuyên nghiệp, một chuyên gia đủ kinh nghiệm và năng lực để cùng DN hoạch định, phân tích mang lại hiệu quả tốt hơn.

Tóm lại, digital marketing đối với các công ty kinh doanh dịch vụ logistics là rất cần thiết và là xu thế của kinh doanh hiện đại. Tuy nhiên, DN nên tìm hiểu, phân tích thực tiễn, đa chiều để đưa ra chiến lược phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất cho việc đầu tư này.

Theo: Vietnam Logistics review.

Công ty vận tải bộ Tân cảng vận hành theo tiêu chuẩn Quốc tế – ISO 39001:2012

Ngày 24.6.2016, Công ty Vận tải bộ Tân Cảng tổ chức lễ công bố chứng nhận Hệ thống Quản lý An toàn giao thông đường bộ theo tiêu chuẩn Quốc tế – ISO 39001:2012 và khai trương Deport Tân Cảng – Rạch Chiếc tại cảng Tân Cảng Cát Lái. Tham dự Lễ có đại diện Bộ GTVT; Đại diện UBATGT Quốc gia; Thủ trưởng BTL Hải quân; Đại diện các cơ quan, ban ngành địa phương; Đại diện Tập đoàn Tuv Nord…

Là doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng chỉ hệ thống quản lý an toàn giao thông đường bộ theo tiêu chuẩn quốc tế

Từ tháng 5. 2015, thông qua dự án “Thúc đẩy phát triển bền vững thông qua chương trình An toàn Giao thông Đường bộ – GOsmart” do Công ty Tuv Nord Việt Nam thực hiện với sự tài trợ của Tập đoàn Tuv Nord và DEG – Tổ chức đầu tư và phát triển, thành viên của Ngân hàng KfW CHLB Đức, được thực hiện dưới sự bảo trợ của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia. Công ty Vận tải bộ Tân Cảng mạnh dạn triển khai xây dựng Hệ thống Quản lý An toàn giao thông đường bộ theo tiêu chuẩn Quốc tế – ISO 39001:2012 vào công tác quản lý. Sau 1 năm triển khai xây dựng (tháng 4.2016) tổ chức chứng nhận Tuv Nord Thái Lan – thuộc Tập đoàn Tuv Nord Đức đã tiến hành đánh giá tại Công ty Cổ phần Vận tải bộ Tân Cảng và cấp chứng nhận Hệ thống quản lý an toàn giao thông đường bộ phù hợp tiêu chuẩn ISO39001:2012. Đây là tổ chức doanh nghiệp vận tải đầu tiên tại Việt Nam được cấp chứng nhận này.

Hiệu quả áp dụng Hệ thống quản lý an toàn giao thông đường bộ theo ISO 39001:2012 tại đơn vị

– Đã thiết lập được một hệ thống quản lý bài bản, bao quát toàn bộ các hoạt động điều hành vận tải, quản lý lái xe và quản lý phương tiện.

– Từ việc bị động giải quyết khắc phục hậu quả va chạm, Công ty đã có cơ chế chủ động trong việc kiểm soát, quản lý xây dựng tuyến đường di chuyển, cảnh báo các nguy cơ mất an toàn cho lái xe.

– Chủ động kiểm soát tình trạng sử dụng thức uống có cồn, chất kích thích, chất gây nghiện cũng được thực hiện lấy mẫu hàng ngày nhằm đảm bảo các lái xe không vận hành phương tiện trong tình trạng thiếu tỉnh táo, hạn chế những va chạm/tai nạn gây ra do lỗi chủ quan của lái xe.

– Phương tiện vận tải được quản lý tuân thủ theo một kế hoạch bảo dưỡng chặt chẽ và thay thế định kỳ.

– Các dữ liệu giám sát hành trình theo dõi vị trí phương tiện, tuyến vận chuyển, tốc độ, thời gian lái xe liên tục 4h, thời gian lái xe quá 10h trong 24h,…

– Công tác ứng phó khẩn cấp và điều tra tai nạn cũng đã được quy định rõ ràng trách nhiệm, công việc và người thực hiện.

– Sau gần 1 năm triển khai áp dụng hệ thống, đã có những chuyển biến tích cực trong công tác quản trị lý. Đối với khách hàng, công ty đã xây dựng được một phong cách phục vụ chuyên nghiệp, tin cậy. Xét về hiệu quả kinh tế, chi phí đền bù va chạm do lỗi chủ quan 4 tháng đầu năm 2016 giảm xuống bằng 30% so với chi phí này cùng kỳ năm 2015. Các trường hợp vi phạm ghi nhận được cũng giảm rõ rệt theo từng tháng.

Hoạt động của Deport Tân Cảng Rạch Chiếc

Nhân dịp này Công ty công bố hoạt động của Deport Tân cảng Rạch chiếc tại Phường Phú Hữu, Quận 9, TP.HCM, cách khu công nghệ cao Quận 9, nhà máy Sam Sung 2km, có diện tích 2ha, cung cấp dịch vụ depot cho các hãng tàu.

3 năm liên tục (2013; 2014; 2015) công ty được tặng thưởng danh hiệu Đơn vị quyết thắng và tập thể lao động xuất sắc; năm 2015 được Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen về thành tích xuất sắc trong công tác từ năm 2013 đến năm 2014, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố Quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc và Ủy ban ATGT quốc gia trao tặng danh hiệu “Vô lăng vàng” cho tập thể công ty và 1 cá nhân; được Bộ tư lệnh Hải quân, Hiệp hội vận tải tặng thưởng nhiều Bằng khen, Giấy khen.

Với phương châm xây dựng công ty “Cách mạng, chính quy, hiện đại, văn minh nghĩa tình” phát triển nhanh, mạnh, bền vững. Công ty Vận tải bộ Tân Cảng đã và đang góp phần phát triển mạnh mẽ trụ cột kinh doanh logistics của SNP, chinh phục khách hàng bằng dịch vụ hoàn hảo nhất, phấn đấu trở thành doanh nghiệp vận tải bộ tiên tiến hàng đầu Việt Nam.

Công ty Cổ phần Vận Tải Bộ Tân Cảng được thành lập ngày 19.11.2007, tiền thân là Công ty Cổ phần Dịch vụ và Đại lý Tân Cảng Số Một,đảm nhiệm sứ mệnh là đầu tàu trong hoạt động cung cấp dịch vụ giao nhận bằng phương thức vận tải bộ – một mắt xích cơ bản và quan trọng trong chuỗi cung ứng dịch vụ logistics và nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh, đem lại hiệu quả thiết thực cho khách hàng và sự phát triển bền vững của trụ cột kinh doanh dịch vụ Logistics của Tổng công ty TCSG – SNP Logistics.

Lĩnh vực kinh doanh chính là vận chuyển hàng container bằng đường bộ cùng các ngành nghề, dịch vụ kinh doanh khác như: làm dịch vụ M&R; liên doanh với hãng tàu, khách hàng lớn như MSC – Singapore SITC, Texhong để thành lập các Cty liên doanh, liên kết hoạt động trong các lĩnh vực vận chuyển và khai thác các depot 1, 2, 5 tại khu công nghiệp Cát Lái, Depot SITC tại Tân Cảng – Cát Lái, Depot Tân cảng – Hải phòng và Depot Tân cảng – Rạch Chiếc tại khu công nghệ cao quận 9, TP.HCM.

Phương tiện vận chuyển hiện có của công ty với hơn 200 xe đầu kéo mới đồng bộ, tuổi đời từ 1 đến 4 năm của các thương hiệu uy tín như Hyundai, Daewoo, UD cùng 4 xe nâng hàng và 1 cẩu khung RTG, với tổng tài sản ước tính trên 300 tỷ đồng… Các xe vận tải vòng ngoài được trang bị đầy đủ thiết bị Giám sát hành trình theo quy định của Bộ GTVT; số lượng semi-remorque chuyên dụng hơn 300 chiếc được đăng ký, kiểm định đầy đủ, đạt yêu cầu vận chuyển an toàn.

Công ty là một trong những doanh nghiệp vận tải container đầu tiên của Việt Nam quyết tâm thực hiện biên chế “mỗi xe 2 tài xế” nhằm tạo điều kiện cho lái xe có thời gian nghỉ ngơi tái tạo sức lao động và dành thời gian cho gia đình, xã hội; giảm thiểu nguy cơ mất ATLĐ, ATGT.

Với tiêu chí “On time, on task, on call”, các phương tiện của Công ty vận tải bộ Tân Cảng là một trong những doanh nghiệp vận tải bộ uy tín đang cung cấp chuỗi dịch vụ logistics của SNP Logistics cho gần 100 khách hàng, trong đó có nhiều khách hàng lớn như: Samsung Vietnam, Panasonic, LG, Vinamilk, Sabeco, IKEA, DHL, Texhong,  Formosa Đồng Nai,  Doosan, Chingluh, Brotex, Molenbergnatie.

Sức mạnh của công ty cổ phần vận tải bộ Tân cảng thể hiện ở nguồn nhân lực chất lượng cao và trình độ tay nghề của hơn 300 lái xe luôn tận tâm, tận lực, sẵn sàng mang đến cho khách hàng sự hài lòng cao nhất về chất lượng dịch vụ. Kết quả SXKD luôn phát triển với những con số ấn tượng, sản lượng xếp dỡ, vận chuyển và doanh thu hàng năm đều tăng trưởng trên 15%; năm 2015 tổng sản lượng vận chuyển, xếp dỡ đạt hơn 2 triệu Teus, doanh thu đạt gần 500 tỷ đồng, lợi nhuận trên 28 tỷ, nộp ngân sách Nhà nước gần 23 tỷ đồng.

Hoàng Bình
Theo: Vietnam Logistics Review.

Hải quan Việt Nam với chương trình: Doanh nghiệp ưu tiên & thỏa thuận công nhận lẫn nhau trong TPP (phần cuối)

Ý nghĩa của việc ký kết thỏa thuận công nhận lẫn nhau

Thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư của VN với các nước thành viên TPP

Năm 2015, các nước thành viên Hiệp định TPP đã ký kết 10 thỏa thuận công nhận lẫn nhau về DN ưu tiên với sự tham gia của 7 quốc gia. Các quốc gia này đều là những đối tác thương mại và đầu tư quan trọng hàng đầu của VN trong TPP. Theo Tổng Cục Hải quan VN, năm 2014, tổng kim ngạch XK của VN trên thị trường thế giới đạt trên 150 tỷ USD, trong đó, các nước thành viên TPP là 58 tỷ USD chiếm gần 39%. Xét trong khối TPP,  Mỹ và Nhật Bản là 02 thị trường XK lớn nhất với tỷ trọng tương ứng là 19% và 9,7% so với tổng kim ngạch XK trên toàn thế giới. Thời gian tới, khi Hiệp định TPP có hiệu lực, kim ngạch XK sang 02 thị trường này được dự báo tăng lên nhiều khi Mỹ cam kết giảm thuế suất xuống 0% đối với hàng dệt may và da giày. Nhật Bản cũng cam kết xóa bỏ thuế NK đối với 86% số dòng thuế, chiếm 93,6% kim ngạch XK, tương đương 10,5 tỷ USD. Thành công trong việc đàm phán ký kết thỏa thuận công nhận lẫn nhau về DN ưu tiên (MRA AEO) sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư của các DN ưu tiên nước đối tác tại VN.

Tăng cường sự tham gia của các công ty logistics VN trong chuỗi cung ứng quốc tế

Ví dụ về hợp đồng XK hàng dệt may bằng đường biển của DN ưu tiên VN và DN ưu tiên Mỹ. Phần lớn hợp đồng XK bằng đường biển của VN lựa chọn điều kiện vận tải nhóm F (như FOB). Trường hợp này, Mỹ sẽ lựa chọn hãng tàu, công ty logistics hiện là DN ưu tiên của Mỹ để hưởng cơ chế ưu đãi về thuận lợi hóa thương mại của cơ quan hải quan Mỹ theo sáng kiến “chuỗi cung ứng ưu tiên” với sự tham gia của tất cả các chủ thể đều là DN ưu tiên. Nếu không thì DN Mỹ sẽ lựa chọn hãng tàu, công ty cung ứng dịch vụ logistics của Singapore, Nhật Bản là những nước thành viên TPP có ngành logistics phát triển và là đối tác DN ưu tiên của Mỹ.

Ngay cả khi phía người XK là VN giành được quyền thuê tàu, mua bảo hiểm hay tổ chức hoạt động chuỗi cung ứng thì hiện nay vì chưa có công ty logistics của VN được công nhận là DN ưu tiên nên xét về lợi ích kinh tế, DN XK VN sẽ trực tiếp thực hiện thủ tục hải quan tại VN bởi họ được hưởng cơ chế ưu đãi đối với DN ưu tiên. Cũng như vậy, các DN XK VN sẽ lựa chọn các hãng tàu, công ty logistics của Mỹ hay Nhật Bản, Singapore hay bất kể nước nào đã có thỏa thuận DN ưu tiên với Mỹ để tiết kiệm chi phí và thời gian logistics trong toàn chuỗi. Kết quả là các công ty logistics VN rất khó tham gia vào chuỗi cung ứng quốc tế của các DN XNK VN và thế giới.

Đề xuất giải pháp thực hiện

Biện pháp kỹ thuật

Hiện nay, chương trình DN ưu tiên của VN còn nhiều điểm chưa tương thích với bộ tiêu chuẩn SAFE cũng như tiêu chí quốc gia của các nước thành viên TPP. Báo cáo rà soát mức độ tương thích của chương trình DN ưu tiên VN với khung tiêu chuẩn SAFE của Tổ chức hải quan thế giới, có một điểm rất quan trọng là: VN chưa quy định về điều kiện an ninh bao gồm hệ thống kiểm soát an ninh nội bộ, an ninh hoạt động sản xuất kinh doanh, an ninh chuỗi cung ứng trong quy trình đăng ký, xét duyệt, thẩm định và công nhận DN ưu tiên. Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản tồn tại trong mục tiêu, lợi ích, quy trình công nhận chương trình DN ưu tiên của VN so với một số nước thành viên TPP quan trọng như Mỹ, Nhật Bản, Singapore.

Ngoài ra, tiến trình đàm phán ký kết thỏa thuận công nhận lẫn nhau của VN đang gặp một số khó khăn đáng kể như:

– Sự khác biệt về phần mềm tin học, giá trị pháp lý và định dạng chứng từ điện tử, ngôn ngữ lập trình.

– Cơ chế trao đổi thông tin XNK hàng hóa của hải quan VN với cơ quan hải quan các nước chưa thông suốt và hiệu quả.

– Tính kết nối và hợp tác giữa các cơ quan quản lý nhà nước và hải quan trong công tác quản lý xuất NK còn thấp.

– Hạn chế nguồn nhân lực để đảm bảo vận hành liên tục và thông suốt hệ thống thông tin hải quan và thông quan hàng hóa tự động nhằm khắc phục việc lệch múi giờ làm việc giữa VN và các nước trên thế giới.

Thời gian tới, VN cần khẩn trương khắc phục những điểm hạn chế trên nhằm phát triển chương trình DN
ưu tiên cũng như thúc đẩy tiến trình đàm phán ký kết thỏa thuận công nhận lẫn nhau trên phạm vi TPP và toàn cầu. Sự tương thích về chương trình DN ưu tiên với các nước đối tác quan trọng như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Mỹ là điều kiện đảm bảo thành công trong đàm phán ký kết thỏa thuận công nhận lẫn nhau của VN.

Về lộ trình đàm phán

Tổng Cục Hải quan VN đang trong quá trình đàm phán ký kết thỏa thuận công nhận lẫn nhau về DN ưu tiên đối với Hàn Quốc. Đây là một sự lựa chọn đúng đắn vì Hàn Quốc là đối tác thương mại và đầu tư hàng đầu của VN. So với các nước thành viên TPP thì Hàn Quốc là thị trường XK lớn chỉ xếp sau Mỹ và Nhật Bản. Hơn nữa, Hàn Quốc là một trong những quốc gia đã ký thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA AEO) nhiều nhất trên thế giới và là đối tác của 6 thành viên TPP về thỏa thuận MRA AEO. Thành công trong đàm phàn ký kết thỏa thuận MRA AEO với Hàn Quốc sẽ là bước đệm và cầu nối vững vàng để VN triển khai đàm phán tiếp với các nước thành viên quan trọng trong TPP.

Trong bản đồ ký kết các thỏa thuận công nhận lẫn nhau của các nước thành viên TPP thì VN nên chọn Nhật Bản hoặc Mỹ là đối tác ưu tiên hàng đầu trong tiến trình đàm phán tiếp theo. Tuy nhiên, Nhật Bản là sự lựa chọn tối ưu hơn vì hiện nay, Hệ thống thông quan hàng hóa tự động VNACCS/VCIS của VN đang vận hành tốt với sự hỗ trợ về công nghệ và trợ giúp kỹ thuật của Hải quan Nhật Bản. Điều này đảm bảo tính tương thích trong thực thi thỏa thuận công nhận lẫn nhau về DN ưu tiên. Hơn nữa, Nhật Bản cùng với Mỹ là hai nước dẫn đầu về thỏa thuận công nhận lẫn nhau đã ký với các nước thành viên trong Hiệp định TPP.

Nếu đạt được thỏa thuận công nhận lẫn nhau với Mỹ và Nhật Bản sẽ góp phần cắt giảm chi phí và thời gian vận hành chuỗi cung ứng, gia tăng lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa XK của VN tại hai thị trường này.

TS. Phan Thị Thu Hiền
Theo:  Vietnam Logistics Review.

Vải xuất khẩu đi Úc được chiếu xạ tại Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội

Ngày 20/6/2016, Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) vừa nhận được thông báo của Bộ Nông nghiệp và Thủy lợi Úc chính thức công nhận Trung tâm chiếu xạ Hà Nội được phép xử lý chiếu xạ quả vải tươi xuất khẩu sang Úc.

Đây là kết quả của sự hợp tác chặt chẽ giữa Cục Bảo vệ thực vật (BVTV) và cơ quan thẩm quyền của Úc, Đại sứ quán Úc tại Việt Nam cũng như sự tham gia tích cực của Trung tâm chiếu xạ Hà Nội và các doanh nghiệp.

Với tin vui này, vải xuất khẩu đi Úc sẽ được xử lý tại Hà Nội, không phải vận chuyển vào phía Nam, góp phần giảm giá thành của vải thiều xuất khẩu và tiết kiệm thời gian vận chuyển. Theo quy định của Úc, để xuất khẩu trái vải tươi của Việt Nam vào thị trường Úc phải đảm bảo 5 yêu cầu.

Đới với vùng trồng: Cơ sở trồng vải phải áp dụng biện pháp canh tác, quản lý sinh vật gây hại và thu hoạch đảm bảo giảm thiểu sinh vật gây hại trên quả vải, áp dụng Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (GAP) và được Cục BVTV kiểm tra, cấp mã số. Cơ sở phải lập và lưu lại hồ sơ, nhật ký sản xuất.

Vải để xuất khẩu phải không bị nhiễm sâu bệnh, không dính đất, không được để lẫn với các sản phẩm từ các vùng trồng chưa được cấp mã số và được đựng trong các thùng (hộp) được ghi rõ thông tin cơ sở trồng phục vụ cho việc truy nguyên nguồn gốc. Vải phải được vận chuyển đến cơ sở đóng gói được cấp mã số bằng phương tiện đảm bảo vệ sinh.

Trước mỗi mùa xuất khẩu vải, cơ sở đóng gói phải được Cục Bảo vệ thực vật kiểm tra đánh giá và công nhận đáp ứng điều kiện nhập khẩu của Úc.

Bao bì đóng gói vải xuất khẩu sang Úc phải đảm bảo hạn chế việc lây nhiễm sinh vật gây hại, kẽ hở hoặc lỗ thoáng phải nhỏ hơn 1,6mm. Thùng các-tông đựng vải phải ghi rõ mã số cơ sở trồng vải, cơ sở đóng gói và cơ sở xử lý và ghi rõ bằng tiếng Anh “Treated with ionizing irradiation” hoặc “Treated with ionizing electrons” hoặc “Irradiated (food)”, và có thể in logo theo quy định đối với thực phẩm chiếu xạ trên bao bì các-tông.

Cùng với đó, vải xuất khẩu đi Úc phải được xử lý tại các cơ sở chiếu xạ đã được Cục Bảo vệ thực vật công nhận (gồm Công ty chiếu xạ Sơn Sơn và Công ty cổ phần chiếu xạ An Phú, Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội) theo liều lượng quy định dưới sự giám sát của cán bộ kiểm dịch thực vật của Việt Nam.

Đồng thời, lô vải xuất khẩu phải được kiểm dịch thực vật đáp ứng yêu cầu nhập khẩu của Úc và có Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật do cơ quan kiểm dịch thực vật của Việt Nam cấp, trên đó ghi rõ: “Lô quả này được sản xuất tại Việt Nam đáp ứng các điều kiện nhập khẩu vải tươi vào Úc và tuân thủ quy định tại Chương trình xuất khẩu quả vải đã được chiếu xạ từ Việt Nam sang Úc”. Trong mục biện pháp xử lý trên Giấy chứng nhận ghi rõ “Liều chiếu xạ thấp nhất 400 Gy”.

Theo Thời báo Tài chính Việt Nam

Lo hải quan khó dứt khỏi tiêu cực

Việc Cục Hải quan An Giang xin giảm nhẹ tội cho 28 nguyên cán bộ đang được TAND TP.HCM đưa ra xét xử trong vụ đưa hối lộ, lừa đảo hoàn thuế đang làm dấy lên mối lo nạn tiêu cực trong ngành hải quan sẽ khó dứt nếu còn duy tình, dung túng.

Ai tin không “nhúng chàm”?

Lý lẽ mà Cục Hải quan An Giang bao biện là vụ án buôn lậu, lừa đảo hoàn thuế và đưa hối lộ xảy ra tại Chi cục Hải quan Cửa khẩu Khánh Bình (Cục Hải quan tỉnh An Giang) do chính Cục này chủ động phát hiện, ngăn chặn, các cán bộ hải quan hợp tác tích cực với phía điều tra. Do đó, đây là tình tiết để xem xét, giảm nhẹ tội danh cho các cán bộ công chức sai phạm.

Tuy nhiên, nếu đọc kỹ hồ sơ điều tra vụ án tại Công ty CP Thực phẩm công nghệ Sài Gòn, với nhóm đối tượng móc nối do Trần Thị Bích Tuyền chủ mưu, đưa hối lộ có “tính hệ thống” cho các công chức thuộc Chi cục Hải quan Cửa khẩu Khánh Bình để lừa đảo chiếm đoạt tiền hoàn thuế hơn 80 tỷ đồng thì liệu ai có thể thứ tha, giảm nhẹ cho nhóm cán bộ biến chất này?

Ở diễn biến khác, TAND tỉnh Kiên Giang cũng đang xét xử vụ lừa đảo hoàn thuế do Trần Hữu Thọ, Huỳnh Văn Trong chủ mưu mà có đến 10 bị cáo nguyên là lãnh đạo, cán bộ hải quan ở tỉnh này. Nhưng hành vi của họ chỉ mới khép tội “thiếu trách nhiệm” vì buông lỏng quản lý, trong khi trước con số 93 tỷ đồng của Nhà nước bị bọn tội phạm hoàn thuế lừa đảo chiếm đoạt thì có ai tin các cán bộ hải quan không “nhúng chàm”?

Ngoài chuyện tiếp tay lừa đảo hoàn thuế, gần đây, thì tình trạng tiêu cực trong ngành hải quan vẫn là vấn đề đau đầu hiện nay, dù khâu thủ tục thông quan có cải thiện. Mới đây, ông Đỗ Xuân Quang, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA) cho biết, theo xếp hạng về chi phí, tính cạnh tranh trong ngành logistics của Ngân hàng Thế giới (WB), ở khu vực ASEAN, Việt Nam đứng thứ 4 từ dưới đếm lên, chỉ hơn Indonesia, Lào, Campuchia.

Nguyên nhân chính của thứ hạng thấp này, theo ông Quang, là do tình trạng tham nhũng trong ngành hải quan Việt Nam mà ngay như một quốc gia lớn trong khu vực là Indonesia cũng chịu cảnh tương tự.

Hàng hóa là “con tin”

Tình trạng cán bộ giải quyết thủ tục hành chính có nhũng nhiễu, tiêu cực được xếp hàng thứ 5 trong 10 khó khăn lớn của DN khi thực hiện thủ tục hành chính.

Giới chuyên gia nhận định, nạn đút lót trong ngành hải quan dựa trên các thủ tục thiếu thông thoáng và không minh bạch đã làm chi phí kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) Việt Nam cao thêm, là sự trói buộc và làm giảm tính cạnh tranh về chi phí cho DN.

Đó là chưa kể, nạn chia chác giữa một số cán bộ hải quan với phía DN để lách, trốn thuế làm nảy sinh tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các DN với nhau. Chẳng hạn, một mặt hàng hai công ty cùng nhập về, nhưng nếu một trong hai công ty có thông đồng với hải quan thì việc đánh thuế sẽ giảm đến 50%.

Ngay như chuyện phát sinh tiêu cực từ khâu thủ tục hải quan, gây khó khăn cho việc thực hiện chủ trương thuận lợi hóa thương mại trước hội nhập cũng là một vấn đề. Theo ông Trần Hữu Huỳnh, Chủ tịch Ủy ban Tư vấn chính sách thương mại quốc tế thuộc Trung tâm WTO – Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), một cuộc khảo sát cho thấy, tình trạng cán bộ giải quyết thủ tục hành chính có nhũng nhiễu, tiêu cực được xếp hàng thứ 5 trong 10 khó khăn lớn của DN khi thực hiện thủ tục hành chính.

Trong khi đó, giới DN xuất nhập khẩu thì cho rằng không hối lộ, móc nối với hải quan thì không được, vì hàng hóa là “con tin” trong tay hải quan và họ hiểu không ít cán bộ luôn muốn được “lãnh lương” cố định hàng tháng từ phía DN.

Theo báo Đấu Thầu.

Hải quan TP.HCM: Thực hiện soi chiếu trên 8.300 container hàng hóa

Theo Cục Hải quan TP.HCM, từ ngày 1-1 đến 7-6-2016, các chi cục hải quan cửa khẩu đã thực hiện soi chiếu trên 8.300 container, đạt trên 110% so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó soi chiếu ngẫu nhiên đối với hàng hóa trước và sau thông quan trên 5.000 container, phát hiện 5 container hàng vi phạm.

Hải quan TP.HCM là đơn vị tiên phong triển khai việc thí điểm soi chiếu trước khi làm thủ tục hải quan, đồng thời thực hiện việc soi ngẫu nhiên đối với hàng hóa thuộc luồng Xanh và luồng Vàng để ngăn chặn buôn lậu và gia lận thương mại, nhưng không ảnh hưởng đến thời gian thông quan hàng hóa.

Đáng chú ý, lãnh đạo Cục Hải quan TP.HCM đã chỉ đạo các đơn vị xây dựng phương án kiểm soát đối với hàng xuất khẩu trên cơ sở sử dụng thông tin nghi ngờ liên quan đến lô hàng được cập nhật trên hệ thống của doanh nghiệp kinh doanh cảng (như trọng lượng quá lớn, thời điểm hạ bãi quá chậm …) và thông tin rủi ro để thực hiện soi ngẫu nhiên và bước đầu đã đạt được kết quả, ngăn chặn hàng xuất khẩu sai khai báo hải quan. Điển hình như vụ xuất khẩu trái phép 4 container thép phế liệu của một doanh nghiệp tại Bình Dương đã bị phát hiện qua hình ảnh soi chiếu ngâu nhiên vào tháng 5-2016 tại cảng Cát Lái.

Bên cạnh đó, Cục Hải quan TP.HCM áp dụng sâu rộng, hiệu quả phương pháp quản lý rủi ro trong các hoạt động nghiệp vụ hải quan, khai thác ứng dụng hệ thống VNACCS/VCIS và các hệ thống thông tin nghiệp vụ khác nhằm đảm bảo tăng cường kiểm soát đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Thực hiện tổng hợp các doanh nghiệp vi phạm pháp luật phục vụ công tác xây dựng hồ sơ QLRR. Chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị tiến hành thu thập thông tin doanh nghiệp, đối tượng hàng hóa XNK trên hệ thống cơ sở dữ liệu của ngành để việc phân (chuyển) luồng được chính xác, kịp thời.

Hiện nay, tờ khai luồng Xanh chiếm 57,18%; luồng Vàng 330.469 TK chiếm 37,18% và luồng Đỏ 50.17 chiếm 5,64%. Tỷ lệ phát hiện vi phạm đạt 0,96%.

Qua dữ liệu nhận thấy công tác phân luồng QLRR ngày càng chặt chẽ hơn, tỉ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa giảm từ 13,74% (6 tháng năm 2015) còn 5,64% nhưng tỷ lệ phát hiện vi phạm tăng từ 0,24% (6 tháng năm 2015) lên 0,96%.

Theo báo Hải Quan.

Cân nhắc giảm thuế nhập khẩu linh kiện xe đầu kéo về 0%

Đó là một trong khẳng định của Bộ Tài chính trước đề nghị của Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI).

Chênh lệch lớn

Giữa tháng 3-2016, trong kiến nghị gửi tới Bộ Tài chính, VAMI cho biết, hiện nay thuế nhập khẩu xe đầu kéo nguyên chiếc (nhập CBU), xe sơ mi rơ-moóc còn rất thấp so với nhập linh kiện (nhập CKD). Cụ thể: Thuế nhập khẩu của xe đầu kéo nguyên chiếc cả mới và đã qua sử dụng đều thấp hơn 2,5%- 7,5% so với nhập linh kiện; xe sơ mi rơ-moóc thấp hơn 12,5% – 20%.

Điều này dẫn đến việc cạnh tranh không công bằng giữa doanh nghiệp kinh doanh nhập nguyên chiếc và doanh nghiệp kinh doanh nhập linh kiện lắp ráp.

Để tránh thất thu nguồn thuế cho Nhà nước, tạo được sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp kinh doanh ô tô trong nước, VAMI kiến nghị Bộ Tài chính xem xét điều chỉnh thuế nhập khẩu.

Trong đó: Tăng thuế nhập khẩu xe đầu kéo nguyên chiếc mới lên 20%; giảm thuế nhập khẩu linh kiện xe đầu kéo về mức 0% vì hiện nay xe đầu kéo nhập khẩu nguyên chiếc từ Trung Quốc và các nước ASEAN đều áp dụng thuế suất 0%.

Đối với xe đầu kéo nhập khẩu nguyên chiếc đã qua sử dụng, VAMI kiến nghị điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu đối với xe đầu kéo đã qua sử dụng lên 50% đồng thời quy định rõ chất lượng còn lại nhằm hạn chế sử dụng xe kém chất lượng, gây ô nhiễm môi trường.

Tương tự, thuế nhập khẩu đối với xe sơ mi rơ-moóc nguyên chiếc cũng được đề nghị tăng lên 50% vì hiện nay thuế nhập khẩu của chủng loại xe này từ các nước ASEAN, Trung Quốc và các nước khác thuế suất ưu đãi đặc biết là 0%.

Kim ngạch nhập khẩu 2014 đối với mặt hàng xe đầu kéo thuộc mã hàng 8701.90.90 là 322 triệu USD (bao gồm cả xe mới và xe cũ), trong đó nhập khẩu từ Trung Quốc là 236 triệu USD  (chiếm 73% tổng lượng nhập khẩu).

Kim ngạch nhập khẩu năm 2015 đạt 675 triệu USD, trong đó nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 427 triệu USD (chiếm 63% tổng lượng nhập khẩu). Trong đó lượng xe ô tô đầu kéo cũ nhập khẩu đạt khoảng 157 triệu USD (chiếm 23% tổng lượng nhập khẩu), chủ yếu từ các nước Mexico, Mỹ, Hàn Quốc.

Kim ngạch nhập khẩu năm 2015 của mặt hàng xe sơ mi rơ-mooc là 269 triệu USD, trong đó 261 triệu USD nhập khẩu từ Trung Quốc (chiếm 97% tổng lượng nhập khẩu).

(Nguồn: Thống kê của Tổng cục Hải quan)

Giảm thuế có kèm điều kiện

Trước những kiến nghị trên, Bộ Tài chính đã soạn thảo Thông tư sửa đổi một số nội dung theo kiến nghị của để xin ý kiến các bộ, ngành liên quan.

Nêu ra ý kiến trong văn bản gửi đến các đơn vị, Bộ Tài chính cho biết: Thuế nhập khẩu hiện được quy định đối với mặt hàng xe đầu kéo nguyên chiếc (mã 8716.39.99) là 5%, bằng cam kết WTO; đối với mặt hàng xe sơ mi rơ-moóc (mã 8716.39.99) là 20%, bằng cam kết WTO. Do vậy, kiến nghị tăng thuế nhập khẩu xe đầu kéo nguyên chiếc từ 5% lên 20% và xe sơ mi rơ-moóc từ 20% lên 50% không phù hợp với cam kết WTO.

Về kiến nghị tăng thuế nhập khẩu đối với xe ô tô đầu kéo đã qua sử dụng lên 50%, Bộ Tài chính cho hay: WTO không cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu đối với xe ô tô đầu kéo đã qua sử dụng. Vì vậy, việc điều chỉnh tăng thuế suất lên mức 50% là không vi phạm cam kết, tuy nhiên mức tăng phải phù hợp với khung thuế suất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định, tức là 0-30%.

Do đó, Bộ Tài chính dự kiến tăng mức thuế suất của mặt hàng xe ô tô đầu kéo đã qua sử dụng từ 5% lên 30%, bằng với mức trần của khung thuế suất nhằm hạn chế nhập khẩu xe đã qua sử dụng, kém chất lượng, gây ô nhiễm môi trường.

Cùng với việc đồng ý tăng thuế đối với xe đầu kéo đã qua sử dụng, Bộ Tài chính cũng thể hiện sự đồng tình trước kiến nghị giảm thuế linh kiện lắp ráp về 0% để hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp trong nước, kiến nghị giảm linh kiện, phụ tùng lắp ráp, sản xuất xe ô tô đầu kéo và sơ mi rơ-moóc.

Tuy nhiên, để đảm bảo thống nhất chính sách, đồng thời đảm bảo chính sách ưu đãi đúng đối tượng, Bộ Tài chính dự kiến bổ sung tại một số điều kiện để áp dụng mức thuế suất ưu đãi đối với các linh kiện này.

Đó là: Hàng hóa nhập khẩu là linh kiện dưới hình thức bộ linh kiện rời động bộ và không đồng bộ của ô tô đầu kéo và rơ-moóc, sơ mi rơ-moóc để sản xuất, lắp ráp ô tô đầu kéo và sơ mi rơ-moóc thuộc nhóm 98.46.

Linh kiện phải do các doanh nghiệp đảm bảo Tiêu chuẩn doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô theo quy định của Bộ Công Thương trực tiếp nhập khẩu để sản xuất, ủy quyền nhập khẩu, uỷ thác nhập khẩu hoặc nhập khẩu kinh doanh. Trường hợp ủy thác nhập khẩu thì phải có hợp đồng ủy thác, trường hợp nhập khẩu kinh doanh thì phải có hợp đồng mua bán với doanh nghiệp có đủ điều kiện lắp ráp xe ô tô theo quy định của Bộ Công Thương khi làm thủ tục hải quan nhập khẩu.

Ý kiến đóng góp với dự thảo Thông tư này sẽ được Bộ Tài chính thu thập đến hết tháng 5-2016 trước khi chính thức ký ban hành.

Theo báo Hải Quan.

 

Ngành logistics sẽ là tâm điểm thu hút dòng vốn

Các chuyên gia tại hội nghị Vietnam Future Market Summit 2016 đều dự đoán nhóm ngành logistics sẽ trở thành tâm điểm thu hút dòng vốn trong thời gian tới. Mặc dù ngành thương mại điện tử tại Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn và bất cập nhưng ngành logistics vẫn sẽ tiếp tục tăng trưởng do nguồn cung kho bãi tăng và sự phát triển của kênh phân phối hiện đại.

Một cuộc khảo sát về chỉ số niềm tin của người tiêu dùng mới đây cho thấy người Việt khá lạc quan về tương lai. Tuy nhiên, ngoài 3 lĩnh vực giáo dục, sức khỏe và sản phẩm chăm sóc gia đình thì mọi người vẫn giữ thói quen cân nhắc trong chi tiêu. Người tiêu dùng chi từ 10 – 12% thu nhập cho việc học hành của con cái, ngành dược phẩm năm nay tăng trưởng 20% so với cùng kỳ năm ngoái và 50% người tiêu dùng chi tiêu nhiều hơn cho các sản phẩm chăm sóc gia đình. Ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) hiện đang trở nên bão hòa với 2 – 3% tăng trưởng hằng năm.

Mối lo ngại và nhận thức về vệ sinh an toàn thực phẩm khiến cho mọi người ít mua hàng từ các khu chợ mà chuyển dần sang những kênh phân phối hiện đại và chuỗi cửa hàng tiện lợi. Mô hình chuỗi cửa hàng tiện lợi đã tăng trưởng 300% trong năm qua.

Hoạt động khuyến mãi vẫn giữ vị trí quan trọng ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của mọi người. Khảo sát ý kiến người tiêu dùng cho thấy trong kênh siêu thị, Saigon Co.op và Big C là hai hệ thống siêu thị có khuyến mãi hấp dẫn nhất, còn về phía cửa hàng tiện lợi thì VinMart và FamilyMart là hai hệ thống đứng đầu qua đánh giá của người tiêu dùng.

Theo ông Greg Ohan – Giám đốc Công ty CBRE thì nguồn cung kho bãi cho thuê tại TP.HCM và các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai đều đang tăng mạnh. Giá thuê trung bình ổn định ở mức 3 USD/m 2 . Số lượng kho bãi cũng đang có xu hướng tăng tại các khu vực đô thị loại 2 để đáp ứng cho nhu cầu của các doanh nghiệp thương mại điện tử đang tăng cao. Số lượng các dự án nhà máy xây sẵn tập trung tại các tỉnh thành công nghiệp trọng điểm như Đồng Nai, Bình Dương, TP.HCM, Long An, Bắc Ninh, Hải Dương và Hải Phòng và giá thuê mặt bằng tại các khu vực này là khoảng 2,8 USD/m 2 .

Với TPP, ngoài các ngành hàng xuất khẩu chủ lực được hưởng lợi từ cắt giảm thuế quan như dệt may, da giày, thủy sản… các chuyên gia đều nhận định việc tham gia hiệp định này sẽ tạo ra một cơ hội bứt phá cho lĩnh vực logistics.

Nhưng trên thực tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước dường như rất ít được hưởng lợi từ TPP vì một trong những nội dung chính của hiệp định này là quy tắc về xuất xứ hàng hóa. Để đáp ứng được quy tắc này, các doanh nghiệp cần có lưu trữ giấy tờ chứng minh xuất xứ hàng hóa tối thiểu 5 năm, cùng với những giấy tờ khác và việc lưu trữ giấy tờ vốn được quản lý rất lỏng lẻo tại các doanh nghiệp Việt Nam.

Ngoài ra các quy định tuân thủ về bảo vệ môi trường cũng là một thách thức lớn khi mà luật bảo vệ môi trường sẽ được siết chặt và những hành vi lạm dụng và không tuân thủ sẽ bị xử lý nặng theo luật định. Các doanh nghiệp quốc doanh cũng sẽ phải tuân thủ những quy định không phân biệt đối xử và những doanh nghiệp Việt Nam nói chung sẽ phải tuân thủ luật bản quyền, sở hữu trí tuệ.

Các chuyên gia cũng đồng thời cảnh báo rằng môi trường cạnh tranh buộc các doanh nghiệp logistics Việt Nam phải nâng cao chất lượng dịch vụ, phải chủ động liên kết tạo thành chuỗi để tận dụng cơ hội tham gia vào chuỗi cung ứng trong khu vực. Tuy nhiên, vấn đề nguồn nhân lực cho logistics vẫn là một vấn đề lớn rất cần đến sự hỗ trợ từ phía các cơ quan chức năng.

Theo Doanh Nhân Sài Gòn.

 

Thực hiện thủ tục hải quan trên mọi phương tiện

Thực hiện thủ tục hải quan mọi lục- mọi nơi- trên mọi phương tiên là một trong những mục tiêu quan trọng về ứng dụng CNTT của Tổng cục Hải quan giai đoạn 2016-2020 vừa được Bộ Tài chính phê duyệt theo Quyết định 1018/QĐ-BTC.

Trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, đại diện CNTT và Thống kê Hải quan (Tổng cục Hải quan) cho biết: Mục tiêu tổng quát trong kế hoạch này là đến năm 2020, hệ thống CNTT hải quan là hệ thống thông minh, xử lý tập trung trên nền tảng công nghệ hiện đại, có khả năng sẵn sàng cao trên cơ sở tích hợp chặt chẽ với các hệ thống thông tin của các bên liên quan.

Hoàn thiện nâng cao hệ thống Hải quan điện tử, thực hiện thành công Cơ chế một cửa quốc gia và kết nối Cơ chế một cửa ASEAN, phối hợp với các đơn vị triển khai thực hiện kết nối trao đổi thông tin giữa cơ quan Hải quan với các cơ quan quản lý nhà nước, các ngân hàng thương mại và DN hoạt động trong lĩnh vực logistics, bảo hiểm và các dịch vụ khác có liên quan, đáp ứng yêu cầu công tác quản lý Hải quan theo chuẩn mực quốc tế “Mọi lúc – Mọi nơi – Mọi phương tiện”, đảm bảo rút ngắn thời gian thực hiện thông quan hàng hóa XNK đạt mức trung bình của ASEAN-4 (thời gian của 4 nước hàng đầu khu vực Đông Nam Á).

Tổng cục Hải quan đặt ra 6 mục tiêu cụ thể để đạt được các kết quả tổng thể nêu trên.

Đáng chú ý là đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ người dân, DN theo hướng đảm bảo khả năng tiếp cận và sử dụng thông tin, dịch vụ thuận lợi cho người dân, DN và các tổ chức; cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 về thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải; thủ tục miễn, giảm, hoàn thuế.

Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng toàn diện CNTT trong tất cả các lĩnh vực nghiệp vụ hải quan, trong đó tập trung mở rộng trong các lĩnh vực liên quan tới miễn, giảm, hoàn thuế, kết nối hệ thống với các cơ quan kinh doanh cảng, kho ngoại quan, cửa hàng miễn thuế, thủ tục quá cảnh, xử lý thông tin về hàng hóa và phương tiện vận tải qua đường biển, đường hàng không, đường bộ.

Bên cạnh đó, Tổng cục Hải quan tiếp tục iện đại hóa ứng dụng CNTT phục vụ công tác quản lý nội bộ theo kế hoạch chung của Bộ Tài chính; đảm bảo 100% văn bản trao đổi giữa các đơn vị trong hệ thống Tổng cục Hải quan dưới dạng điện tử (trừ các văn bản mật); 80% văn bản trao đổi giữa các cơ quan Nhà nước dưới dạng điện tử (bao gồm các văn bản gửi song song cùng văn bản giấy)…

Theo báo Hải Quan.