Doanh nghiệp logistics Việt làm gì để cạnh tranh đối thủ ngoại?

Thống kê của tổ chức độc lập tập hợp hơn 1.000 chuyên gia trong ngành logistics là Vietnam Suppy Chain cho thấy 25 doanh nghiệp logistics đa quốc gia đang chiếm 70-80% thị phần cung cấp dịch vụ logistics ở Việt Nam với phạm vi hoạt động gần 100 quốc gia khác nhau.

Hơn 400 chuyên gia, doanh nghiệp logistics, quản trị cung ứng đã tập hợp tại Diễn đàn logistics Việt Nam 2015 ngày 27/8 để bàn giải pháp cạnh tranh với đối thủ ngoại.

Thống kê của tổ chức độc lập tập hợp hơn 1.000 chuyên gia trong ngành logistics là Vietnam Suppy Chain cho thấy 25 doanh nghiệp logistics đa quốc gia đang chiếm 70-80% thị phần cung cấp dịch vụ logistics ở Việt Nam với phạm vi hoạt động gần 100 quốc gia khác nhau.

Ông Julien Brun – Tổng giám đốc Công ty tư vấn chuỗi cung ứng CEL và là sáng lập viên Vietnam Suppy Chain nhận định thị trường dịch vụ logistics Việt Nam năm 2015 có sự chuyển biến tích cực với số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong ngành phát triển nhanh và có tốc độ tăng trưởng tương ứng 20-15%/năm.

Tuy nhiên các công ty logistics Việt Nam chỉ mới hoạt động trong phạm vi nội địa hay một vài nước trong khu vực và chủ yếu làm đại lý hoặc đảm nhận từng công đoạn cho các doanh nghiệp quốc tế.

Điều này cản trở doanh nghiệp Việt Nam cung cấp dịch vụ trọn gói cho khách hàng. Bởi lẽ trong xu thế toàn cầu hóa chủ hàng thường có xu hướng thuê ngoài từ rất nhiều quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Một số công ty Việt Nam cũng có các đại lý ở nước ngoài nhưng quan hệ này khá lỏng lẻo và không đồng nhất.

Đây chính là những nguyên nhân cơ bản làm cho năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics Việt Nam thua xa và chỉ đóng vai trò “vệ tinh”, đảm nhận một số dịch vụ đơn lẻ như làm thủ tục hải quan, cho thuê phương tiện vận tải, kho bãi…

Theo ông Julien Brun, trong bối cảnh khi mà hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam ngày càng phát triển với kim ngạch tăng cao, thương mại nội địa ngày càng mở rộng, nhu cầu dịch vụ logistics ngày càng gia tăng thì đây là vấn đề phải đặc biệt quan tâm, khắc phục để hạn chế thiệt hại ngay trên “sân nhà” đối với lĩnh vực được coi là cơ sở hạ tầng của nền kinh tế.

“Các thách thức đối với logistics đặc thù tại thị trường Việt Nam hiện nay là: cơ sở hạ tầng yếu kém, logictics ở vùng sâu vùng xa và nội thành, giải pháp logitics cho ngành thương mại điện tử, hệ thống phân phối hàng hóa ở Việt Nam cho tương lai, quản trị rủi ro trong logistics…”, ông Julien Brun nói.

Chia sẻ kinh nghiệm trở thành một trong những công ty logistics hàng đầu (theo như công bố của Hiệp hội logistics Việt Nam), ông Khiêm Trần – Phó Tổng giám đốcGemadept Logistics cho biết với việc kết nối hệ thống logistics và hệ thống cảng của Gemadept tại các khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm, công ty luôn nằm trong tốp dẫn đầu thị trường về quy mô doanh thu logistics.

Đồng thời Gemadept không ngừng phát triển mạng lưới, tích hợp các dịch vụ về logistics gồm: vận tải đường thủy, vận tải đường bộ, vận tải hàng dự án, vận tải hàng không, phát triển hoạt động contract logistics và các dịch vụ hỗ trợ nhằm cung cấp cho khách hàng các giải pháp logistics tích hợp, toàn diện trên phạm vi cả nước.

Trong giai đoạn tới, Gemadept đặt trọng tâm mở rộng hệ thống Trung tâm phân phối (logistics hub) tại miền Bắc, miền Tây (đồng bằng sông Cửu Long) và miền Trung để sẵn sàng nắm bắt cơ hội tăng trưởng của thị trường.

Cuối tháng 6/2015, Gemadept đã góp vốn với các đối tác thành lập CTCP Logistics Nam Hải với vốn điều lệ 120 tỷ đồng, trong đó Gemadept góp 65% vốn. Việc thành lập Công ty logistics Nam Hải nhằm triển khai Dự án Trung tâm logistics và depot tại Khu công nghiệp Đình Vũ (Hải Phòng), là hệ thống kết nối các dịch vụ hoạt động khai thác cảng và logistics tại khu kinh tế trọng điểm phía Bắc.

Trước đó, Gemadept cũng đã quyết định cùng với CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phúđầu tư xây dựng Trung tâm logistics tại Khu công nghiệp Sông Hậu, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, với tổng vốn đầu tư 670 tỷ đồng. Dự án này nằm trong chiến lược phát triển mạng lưới logistics của Gemadept tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Là công ty tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ vào dịch vụ vận chuyển hàng hóa, ông Phước Trần đồng sáng lập viên Công ty CP dịch vụ Giao hàng nhanh cho biết ứng dụng Ahamove của công ty đang tập trung cung cấp dịch vụ cho khách hàng cá nhân và tiểu thương, doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Bên cạnh đó, Ahamove cũng đang chạy thử nghiệm với một số doanh nghiệp logistics và thương mại điện tử lớn. Hiện công ty đang xây dựng dữ liệu và quy trình vận hành cho chuẩn hơn, dự kiến sẽ cho ra mắt những sản phẩm/dịch vụ cộng thêm này trong tháng 10 tới.

“Trong thời gian chạy test này, Giao hàng nhanh cũng đang cùng với các đối tác định hình mô hình hợp tác. Hiện có 2 case studies với 2 công ty logistics lớn, 1 miền Nam và 1 miền Bắc, mỗi nhà có khoảng 30-40 xe. Tuy nhiên họ không có hệ thống vận hành/quản lý/tracking cho xe; vẫn làm thủ công là ghi sổ.

Chúng tôi đang đề xuất giải pháp kỹ thuật, chia sẻ mảng tracking của mình cho họ dùng free, để giúp họ quản lý xe thông qua Ahamove platform. Đổi lại sẽ là nếu họ muốn chở hàng chiều về, thì chỉ cần “turn on” thì sẽ trở thành 1 tài xế trong hệ thống Ahamove, và nhận được đơn hàng”, ông Phước Trần chia sẻ.

Theo cafebiz.

 

Triển lãm Vietbuild 2015 lần thứ 2 tại TP.HCM

(Vietnam Logistics Review) Năm 2015, được sự chỉ đạo và bảo trợ của Bộ Xây dựng, Triển lãm Quốc tế Vietbuild 2015 lần thứ 2 với chủ đề Bất động sản – Kiến trúc & Trang trí nội ngoại thất sẽ được diễn ra tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC), Quận 7, TP.HCM từ ngày 1/9 đến ngày 5/9/2015 do Trung tâm Thông tin – Bộ Xây dựng, Công ty CP tổ chức Triển lãm Quốc tế Bất động sản VNREBUILD phối hợp tổ chức thực hiện.

Đây là sự kiện chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất Đất nước, 70 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và kỷ niệm 57 năm ngày truyền thống của ngành Xây dựng Việt Nam (29/4/1958 – 29/4/2015).

QUY MÔ VÀ TẦM VÓC ĐẶC BIỆT CỦA NGÀNH XÂY DỰNG

Triển lãm có quy mô và tầm vóc đặc biệt của ngành Xây dựng – Bất động sản – Kiến trúc và Trang trí nội ngoại thất, với những sự thay đổi và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà DN, đối tác tham quan và quần chúng nhân dân đến với Triển lãm.

Triển lãm Vietbuild 2015 lần thứ 2 tại TP.HCM giới thiệu và trưng bày các sản phẩm đa dạng và phong phú của ngành Bất động sản – Kiến trúc và Vật liệu trang trí nội ngoại thất cùng với nhiều chương trình hoạt động phong phú va thiết thực nhằm phục vụ các DN trong hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt là sẽ góp phần vào sự phát triển toàn diện về mọi mặt của ngành Xây dựng VN.

Tiếp nối thành công tốt đẹp của Triển lãm Quốc tế Vietbuild 2015 lần thứ nhất tại TP.HCM, Triển lãm lần 2 lần này đã thu hút được sự tham gia của 2.300 gian hàng với sản phẩm mới, công nghệ tiên tiến của gần 800 đơn vị, trong đó có 467 DN trong nước, 215 DN liên doanh và 107 DN, các tập đoàn nước ngoài đến từ 18 quốc gia và vùng lãnh thổ: Sinhgapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Thụy Điển, Malaysia, Nhật Bản, Austria, Thái Lan, Italia, Indonesia, Hồng Kông, Thụy Sĩ, Hà Lan, Trung Quốc, Pháp, Đức, Autralia và Việt Nam.

SẢN PHẨM TRƯNG BÀY VỚI NHIỀU MẪU MÃ MỚI, CHẤT LƯỢNG ĐƯỢC NÂNG CAO

Đặc biệt, tại Vietbuild 2015 lần thứ 2 tại TP.HCM, hầu hết các sản phẩm trưng bày tại Triển lãm đã được các DN tìm hiểu, nghiên cứu và đầu tư với các sản phẩm có mẫu mã mới, tính năng và chất lượng được nâng cao đáp ứng nhu cầu xây dựng, trang trí nội ngoại thất ngày càng phát triển:

1/ Bất động sản – Kiến trục – Hệ thống cho ngôi nhà thông minh và thiết bị điện

2/ Trang trí nội ngoại thất

3/ Sơn trang trí và chất chống thấm, thang máy, hệ thống máy điều hòa, chất tạo màu công nghiệp, thiết bị công nghệ máy móc, hệ thống máy lọc nước, hệ thống máy năng lượng mặt trời, thiết bị ống nước, thang nhôm, tín dụng ngân hàng, dụng cụ cầm tay, khóa và các phụ kiện xây dựng khác.

CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG  

1/ Lễ khai mạc: Diễn ra vào lúc 9g – 10g30 ngày 1/9, được truyền hình trực tiếp trên HTV9

2/ Hội thảo: diễn ra vào lúc 8g – 11g30 ngày 3/9/2015 tại Phòng Hội thảo – Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC) – TP.HCM với chuyên đề: “Sản phẩm mới – Công nghệ tiên tiến của ngành Bất động sản – Kiến trúc và Trang trí nội ngoại thất trong Hội nhập và Phát triển”.

3/ Là diễn đàn và cơ hội giao lưu giữa các DN tại địa phương và các nước tại Triển lãm. Diễn đàn “Đồng hành cùng DN” là nhịp cầu để DN và công chúng gặp gỡ, trao đổi, nắm bắt nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùnng để định hướng chiến lược trong kinh doanh. Với nhiều chương trình giao lưu, diễn đàn DN với khách hàng tham quan và người tiêu dung để tư vấn sản phẩm, thiết kế kiến trúc và ký kết hợp tác cũng như mua bán tại Triển lãm.

 

Hoàng Bình
Theo: Vietnam Logistics Review

Logistics: “Cuộc chiến vương quyền” 3PL

Dù đã triển khai được dịch vụ 3PL, chủ tịch Bùi Tuấn Ngọc của Transimex vẫn đánh giá doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ tham gia vào logistics ở mức sơ cấp.

Ngày 12.8 vừa qua, công ty Transimex Sài Gòn chính thức khởi công xây dựng “kho ngoại quan và trung tâm logistics khu công nghệ cao” sau hơn nửa năm nhận giấy phép đầu tư. Đây là dự án có diện tích 10 ha với nhiều loại kho, đạt tiêu chuẩn quốc tế và dự kiến sẽ đi vào khai thác vào đầu năm 2016. Ông Bùi Tuấn Ngọc, Chủ tịch Transimex Sài Gòn, bày tỏ hy vọng dự án sẽ tạo thêm cơ sở để Công ty tập trung phát triển cung cấp dịch vụ quản lý chuỗi cung ứng và cung cấp logistics trọn gói bên thứ 3 (3PL).

Ngoại – nội song toàn

Không chỉ riêng Transimex mong muốn trở thành nhà cung cấp dịch vụ logistics toàn diện, mà cũng chính là đích ngắm của rất nhiều công ty khi tham gia vào ngành này. Sự tác động từ các hiệp định tự do thương mại cùng những hoạt động mang tính bành trướng về thị trường là bàn đẩy cho doanh nghiệp logistics tham gia vào chuỗi cung ứng hàng hóa. Có đến 40-50% công ty ở các nước phát triển sử dụng “dịch vụ logistic thuê ngoài trọn gói” để luân chuyển hàng hóa của họ. Ở Việt Nam, các công ty lớn như Masan, Vinaphone đã đi đầu trong xu hướng này.

Thực tế ngành cho thấy, các tập đoàn logistics có doanh thu cao nhất thế giới cũng là những đơn vị dẫn đầu về cung cấp hợp đồng logistics trọn gói toàn diện. Có thể kể đến những cái tên như DHL, Kuehne + Nagel hay DB Schenker.

Tại Việt Nam, tổ chức Amstrong & Associates công bố rằng thị trường cung cấp dịch vụ logistics tổng hợp 3PL trong năm 2014 mới chỉ đạt giá trị khoảng 1,2 tỉ USD, còn rất thấp so với thế giới và đang nằm trong tay các ông lớn nước ngoài như DHL Logistics, Damco, FedEx, APL. Tuy nhiên, phía Việt Nam đã nổi lên những cái tên như Gemadept, Vinafco hay Transimex cũng rất nỗ lực để trở thành nhà cung cấp dịch vụ 3PL.

Hãy xem những “con số biết nói” mà các doanh nghiệp logistics của Việt Nam đã đạt được kể từ khi tham gia cung cấp dịch vụ trọn gói này.

Đầu tiên là Gemadept. Năm 2014, mảng dịch vụ logistics tổng hợp 3PL của công ty này đã đạt mức tăng trưởng doanh thu 28% và lợi nhuận trước thuế tăng 175% so với năm 2013. Họ có 8 trung tâm phân phối logistics từ Nam ra Bắc và đang phục vụ cho hơn 40 khách hàng lớn, cả đa quốc gia (Samsung) lẫn trong nước (Vinamilk, Masan, Kinh Đô).

Tiếp theo là Transimex Sài Gòn. Sau khi nâng cấp cảng ICD (cảng thông quan nội địa) vào năm 2011 và đầu tư thêm trung tâm phân phối hồi năm 2013, doanh thu năm 2014 của Transimex Sài Gòn là 480,8 tỉ đồng, lãi sau thuế đạt 138 tỉ đồng. Ðây là mức tăng gấp 2,7 lần doanh thu và gấp 3,7 lần lãi sau thuế so với 5 năm về trước.

Và không thể không nhắc đến “ngôi sao” khác là Vinafco. Từ khả năng cung cấp trọn gói dịch vụ logistics 3PL, Vinafco cũng đã vượt qua nhiều đối thủ nặng ký để giành những hợp đồng quốc tế lớn như Akzo Nobel (Sơn Dulux), Kimberly-Clark (Kotex). Vinafco đang có khả năng cung cấp dịch vụ 3PL tại các vị trí kinh tế chiến lược như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bình Dương, Hậu Giang. Công ty này cũng triển khai phần mềm quản lý kho tiên tiến, giúp giảm 50% thời gian làm việc, phản ứng nhanh trước những thay đổi của thị trường.

Nhưng dù đã triển khai được dịch vụ 3PL, ông Bùi Tuấn Ngọc, Transimex, vẫn đánh giá rằng doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào logistics mới chỉ ở mức sơ cấp. Bài toán không dễ trong ngành này là các công ty buộc phải ứng dụng trình độ công nghệ thông tin, thuật toán ở mức độ cao liên tục. Bên cạnh đó, các công ty cũng phải có những mở rộng lớn về cơ sở hạ tầng để tận dụng “lợi thế quy mô” trong quá trình vận tải, lưu kho, lưu bãi. Từ đó mới tối ưu hóa hoạt động, loại bỏ các chi phí vô ích.

Sự tự thân vận động sẽ không hoàn hảo nếu không nhận được tác động từ các yếu tố khách quan. Với ngành này, ai cũng có thể hiểu rằng cơ sở hạ tầng gồm cầu đường, bến cảng phải phát triển thì tần suất lưu thông hàng hóa mới gia tăng; hoặc quy trình thủ tục thông quan, các giấy tờ phải nhanh chóng, tinh gọn. Song điều này ở Việt Nam vẫn còn là một câu chuyện dài.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), chi phí hậu cần của Việt Nam chiếm tới 25% GDP, cao hơn so với hầu hết các nước lân cận. Tỉ lệ này ở Thái Lan là 19%, Trung Quốc 18%, Nhật 11%, Singapore 8%. Điều này làm giảm năng lực cạnh tranh của logistics Việt Nam, dù xét chỉ số đo lường hiệu quả logistics (LPI) thì Việt Nam đạt 3,5/5 điểm vào năm 2014, tăng 5 bậc so với năm 2013.

Đi tìm vùng trũng

Dù còn nhiều bất cập, các công ty kinh doanh logistics của Việt Nam vẫn liên tục mở rộng quy mô. Điều này không khó hiểu khi logistics là ngành có quy mô 20-22 tỉ USD, có tốc độ tăng trưởng trung bình 16-20%/năm. Ngoài ra, theo nghiên cứu của Viện Nomura (Nhật), các doanh nghiệp logistics Việt Nam mới chỉ đáp ứng được 1/4 nhu cầu thị trường logistics và đang dừng ở việc cung cấp dịch vụ cho một số công đoạn của chuỗi dịch vụ khổng lồ này. Doanh nghiệp gia tăng đầu tư vào logistics còn để đón đầu các cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế.

Đi sâu vào các mảng tạo chuỗi giá trị của logistics, thì giao nhận hàng hóa qua khai thác cảng (biển và hàng không) và vận tải (nội địa và quốc tế) là lĩnh vực có nhiều cơ hội, bên cạnh 2 dịch vụ khác là quản lý chuỗi cung ứng và kho bãi. 90% hàng hóa xuất nhập khẩu vào Việt Nam vận chuyển qua đường biển với khoảng 500-600 triệu tấn/năm. Dự kiến đến năm 2020, hàng hóa qua các cảng biển sẽ đạt 1,1 tỉ tấn. Ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Tổng Giám đốc Gemadept, tiết lộ doanh thu từ khai thác cảng ở Gemadept ước góp khoảng 60% tổng doanh thu năm 2015 của công ty này. Đó là vì Gemadept đã đưa vào khai thác 4 trong 6 cảng mà họ đầu tư. Trong đó, cảng Nam Hải Đình Vũ tuy chỉ mới đưa vào khai thác từ tháng 5.2014, nhưng ngay năm đầu tiên đã đạt công suất khai thác 60% và ghi nhận lợi nhuận.

Điều mà Gemadept đạt được là rất đáng nói, bởi các cảng biển thường phải chịu lỗ 2-3 năm đầu tiên và hoàn vốn trong một thời gian không ngắn, khoảng hơn 10 năm. Nam Hải Đình Vũ là trọng điểm chiến lược trong chuỗi cảng biển toàn quốc của Gemadept. Cho nên, ông lớn này sẽ khai thác triệt để 2 cảng Nam Hải và Nam Hải Đình Vũ ở mức 100% công suất trong năm 2015.

Nam Hải và Nam Hải Đình Vũ đều là cảng nằm trong khu vực Hải Phòng. Báo cáo phân tích từ Công ty Chứng khoán BIDV cho thấy đây là khu vực mà hàng hóa xuất nhập khẩu đi qua đạt tốc độ tăng trưởng cao, trung bình 14,6%/năm trong giai đoạn 2009-2014. Các cảng hoạt động tại đây như Đình Vũ, Hải An, Greenport đều có vị trí thuận lợi khi gần các khu công nghiệp lớn, có khả năng đón tàu trọng tải lớn nên đạt hiệu quả khai thác tối ưu.

Cần cái bắt tay

Nhưng tham gia vào khai thác cảng biển là một cuộc chơi của tiền và tiền, cần sự bắt tay qua lại. Một dẫn chứng là cảng Nam Hải Đình Vũ có quy mô vốn đầu tư hơn 1.300 tỉ đồng và Gemadept nắm 84,66% vốn điều lệ. Tương tự, Transimex góp vốn liên doanh vào Công ty Vận tải và Xếp dỡ Hải An. Transimex còn liên doanh với Công ty Nippon Express và Vinafreight. Ngoài hỗ trợ cho tham vọng chuyên sâu vào cung cấp dịch vụ 3PL của Transimex, tất cả các khoản góp vốn này đang góp hơn 50% lợi nhuận sau thuế hàng năm cho Công ty.

Về vận tải, nhờ sự bảo hộ mà Việt Nam chiếm phần lớn các tuyến vận tải thủy bộ nội địa. Còn trên quốc tế, Việt Nam chỉ mới tham gia các tuyến ngắn và trong khu vực lận cận như Việt Nam-Phnom Penh. Phạm vi hoạt động của các công ty Việt Nam chưa đủ khả năng mở rộng như các “siêu trùm logistics quốc tế” là APL (gần 100 quốc gia) hay Maersk (60 quốc gia). Ngoài ra, do các công ty xuất nhập khẩu lớn của Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp FDI hoặc là công ty làm gia công, nên khâu giao nhận thường giao cho các công ty quốc tế triển khai. Hiếm có cơ hội để các công ty Việt Nam tham gia vào chuỗi logistics toàn cầu.

Tuy nhiên, cơ hội cho doanh nghiệp Việt trong mảng vận tải lại nằm ở năng lực đưa ra các gói vận tải hàng hóa với mức cước tối ưu. Hiểu nôm na là triển khai gói hợp đồng vận tải đa phương thức gồm chọn lựa hãng tàu vận tải nội địa thủy bộ, đưa hàng đến cảng, sau đó lựa chọn hãng tàu, hãng hàng không vận tải quốc tế với mức cước rất cạnh tranh. Các công ty Việt Nam như Gemadept, Transimex, Vinafco đều đủ mạnh để triển khai các chiến lược này. Đặc biệt, theo tính toán của Cục Hàng hải Việt Nam, khi vận tải chiếm từ 40-60% chi phí logistics và doanh nghiệp trong nước mới chỉ đáp ứng được 18% tổng nhu cầu vận tải biển hàng hóa xuất nhập khẩu, tiềm năng thị trường dịch vụ vận tải của Việt Nam là rất hứa hẹn.

Mấu chốt trong triển khai vận tải là công ty phải xây dựng được các cảng thông quan nội địa (ICD). ICD là nơi tập kết hàng hóa xuất từ các chủ hàng, đóng thành container rồi sau đó chuyển ra cảng. Hoặc theo chiều ngược lại là nhận hàng nhập từ cảng, dỡ hàng khỏi container và vận chuyển đến người nhận.

Thực tế, trong triển khai dịch vụ kho bãi, mô hình “trung tâm phân phối (DC)” mới là bước phát triển tân tiến. Các tập đoàn sản xuất hàng tiêu dùng, điện tử như Samsung, Unilever, P&G, Vinamilk đều có nhu cầu sử dụng DC vì mô hình này cho phép truy xuất thông tin, hàng hóa nhanh và chính xác.

Vì thế, trong đầu tư cho logistics, hầu hết các công ty lớn đều ưu tiên mở rộng diện tích DC. Năm 2015, ông Nguyễn Thanh Bình cho biết, Gemadept sẽ “Bắc tiến”. Gemadept dự kiến đầu tư mạnh vào các trung tâm logistics, kho, cảng tại Hải Phòng, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Dương. Ngoài ra, Gemadept cũng vừa mở rộng hoạt động logistics xuống Đồng bằng Sông Cửu Long khi bắt tay với Công ty Thủy sản Minh Phú đầu tư Trung tâm logistics và Kho lạnh tại Hậu Giang.

Trong khi đó, với Transimex Sài Gòn, một khi đưa vào hoạt động Trung tâm logistics tại Đà Nẵng và Kho ngoại quan – Trung tâm Dịch vụ hậu cần Logistics ở Khu công nghệ cao (TP.HCM), công ty này có thể phát triển dịch vụ quản lý chuỗi cung ứng cho các mặt hàng thiết bị, linh kiện điện tử từ dòng vốn FDI vào Việt Nam. Đây là bước đầu tư giúp Transimex đẩy mạnh hơn nữa hoạt động cung cấp 3PL.

Nhìn ở tầm vĩ mô, dịch vụ logistics sẽ là yếu tố then chốt để thúc đẩy phát triển sản xuất, phân phối và lưu thông hàng hóa trong nước cũng như xuất nhập khẩu. Thủ tướng Chính phủ cũng vừa mới ban hành quyết định về quy hoạch phát triển logistics trong cả nước đến năm 2020, với mục tiêu đạt tăng trưởng ở tầm 20-25% năm, góp 10% GDP của quốc gia. Trong đó, hình thức dịch vụ 3PL, thương mại điện tử và quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả sẽ là những mũi nhọn.

Theo NCĐT.

Không trễ hẹn hồ sơ hải quan

Trước việc nhiều doanh nghiệp lĩnh vực xuất nhập khẩu phản ánh về các phiền hà, cũng như việc trễ hẹn trong thực hiện thủ tục hải quan, PV báo Đại Đoàn Kết đã trao đổi với ông Nguyễn Hữu Nghiệp – Phó Cục trưởng Cục Hải quan TP HCM để làm rõ những vấn đề này.

PV: Là địa phương đi đầu cả nước về thực hiện nhiều giải pháp nhằm cải cách TTHC, hiện đại hóa hải quan, giảm bớt phiền hà về chi phí, thời gian đi lại cho người dân, doanh nghiệp (DN), xin ông chia sẻ về một số kinh nghiệm của hải quan TP HCM thời gian qua?

Ông Nguyễn Hữu Nghiệp: Cục Hải quan TP HCM từ năm 2000 đã tiến hành các giải pháp cải cách TTHC, hiện đại hóa ngành hải quan. Với khối lượng hàng hóa mỗi ngày mỗi nhiều hơn, chúng tôi nhận ra nếu không chủ động cải cách TTHC thì không thể nào quản lý xuể được. Đầu tiên, chúng tôi bắt tay vào thực hiện tốt “Đối thoại DN”. Thông qua giải pháp này, lãnh đạo Cục Hải quan TP trực tiếp lắng nghe các ý kiến bức xúc, cũng như những vấn đề mà DN phản ánh.

Bên cạnh đó, chúng tôi thực hiện cung cấp công khai số điện thoại đường dây nóng. Nghĩa là cung cấp từ số điện thoại của đồng chí Cục trưởng cho đến các đồng chí Đội trưởng. Việc này nhằm trong quá trình giải quyết thủ tục hải quan thì các DN có những vấn đề gì đó không rõ, hoặc những vấn đề chưa xử lý được; hoặc giữa hải quan và DN có nhiều vấn đề thì họ có thể gọi cho số điện thoại đường dây nóng.

Từ năm 2006, Cục Hải quan TP HCM tiếp tục thí điểm mô hình hải quan điện tử. Trong đó có sự kiện thành lập Chi cục Hải quan điện tử. Suốt quá trình thí điểm này thì chúng tôi đã xây dựng được một nề nếp trong chính các cơ quan hải quan, cũng như DN về thực hiện các dữ liệu điện tử. Trong đó, có nhiều bước như là khai báo từ xa; vừa làm điện tử vừa làm thủ công;… đã đáp ứng được nhu cầu của DN. Mới đây nhất vào tháng 6-2014 thì chúng tôi tiếp tục tiếp cận hệ thống thông quan điện tử do Nhật Bản tài trợ. Hệ thống này khi triển khai đã được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính và sự quan tâm chỉ đạo của UBND TP HCM. Qua đó, chúng tôi đã khắc phục được nhiều hồ sơ hải quan trễ hẹn cho cá nhân, tổ chức, DN.

Về mô hình thông quan điện tử thì Chính phủ đã cấp kinh phí cho ngành hải quan đầu tư máy soi container. Tác động của chủ trương này cho đến nay đã đạt được kết quả như thế nào, thưa ông?

– Đúng là từ khi Chính phủ đầu tư máy soi container cho ngành Hải quan thành phố đã có tác động rất lớn, đặc biệt là giảm thời gian chờ đợi cho DN. Chúng tôi đánh giá đây là thiết bị rất quan trọng và với máy soi container thì cơ quan Hải quan có thể không cần can thiệp bằng khâu xâm nhập, có nghĩa là có thể kiểm tra, kiểm soát hàng hóa mà không phải mở container ra.

Thời gian qua, các DN cũng phản ánh nhiều về sự chưa đồng bộ trong nhiều hồ sơ, thủ tục giữa cơ quan hải quan và các cơ quan khác. Vấn đề này là thế nào, thưa ông?

– Như chúng ta đều biết thì từ năm 2014, trên cơ sở chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ thì Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã cùng với cơ quan Hải quan tiến hành thực hiện Nghị định 19 của Chính phủ liên quan đến giảm thời gian thông quan. Tuy nhiên, qua thực tiễn giải phóng hàng hóa thì cũng thấy rõ ràng là thủ tục hải quan chỉ chiếm 28% trong thời gian làm thủ tục thôi, còn lại đến 72% lại là do chính sách của các Bộ, ngành. Đây cũng vấn đề mà chúng tôi rất băn khoăn và giải pháp chắc chắn là đề nghị các Bộ ngành, nhất là Bộ Công thương, Bộ NN&PTNT phải tiếp tục có những quan tâm, để cùng với ngành Hải quan giải quyết được thống nhất, giảm bớt thời gian làm thủ tục cho DN.

Còn những thủ tục đang thực sự “vênh” giữa ngành hải quan và các cơ quan liên quan tại thành phố đang làm khó DN thì giải pháp như thế nào, thưa ông?

– Hiện nay đúng là thực hiện thông quan điện tử thì cơ quan hải quan lưu giữ toàn bộ hồ sơ theo hệ thống dữ liệu điện tử, tuy nhiên một số cơ quan khác thì có thể họ lại đòi văn bản giấy. Chẳng hạn, một lô hàng được thông quan điện tử khi DN mang hàng ra cảng thì đòi hỏi có tờ khai hải quan, trong khi dữ liệu này là dữ liệu điện tử. Vậy thì, Quản lý thị trường hay là cơ quan công an khi kiểm tra, kiểm soát trong quá trình lưu thông hàng hóa xuất nhập khẩu thì họ có đòi hỏi DN phải xuất trình tờ khai. Rõ ràng việc này thì bắt buộc DN phải quay lại yêu cầu cơ quan hải quan cấp tờ khai này cho họ. Do đó mất thời gian thông quan hàng hóa.

Để khắc phục tình trạng này thì trước mắt trong quá trình triển khai thực hiện thì nếu yêu cầu của DN cần in tờ khai hải quan thì Cục Hải quan TP sẽ cung cấp đóng dấu cho DN. Trong tương lai thì nếu tất cả các cơ quan liên quan thực hiện hoàn toàn dữ liệu điện tử và kết nối hệ thống với nhau thì không cần tờ khai này nữa.

Thời gian qua trong khi Cục Hải quan đã áp dụng cấp chữ ký số, tuy nhiên nhiều DN vẫn còn chưa mặn mà về mô hình mới này. Nguyên nhân vì sao, thưa ông?

Hiện nay theo quy định thì chữ ký số thì được triển khai trên hệ thống thông quan điện tử tự động. Về cơ bản, việc thực hiện chữ ký số thay cho hình thức truyền thống là ký tên đóng dấu trên văn bản giấy đã giúp cải thiện nhiều vấn đề vốn tồn tại trước đây. Tuy nhiên, ngành hải quan vẫn còn băn khoăn đối với chữ ký số, bởi vì như hiện nay thì có 5 cơ quan cùng có chức năng cung ứng chữ ký số, gồm: Viettel, FPT, Bưu chính viễn thông,… Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ là khi các cơ quan này cấp chữ ký số cung ứng cho DN thì nảy sinh việc chưa tương thích được với các phần mềm mà cơ quan hải quan đang thực hiện.

Chúng tôi cho rằng, cần phải có sự nghiên cứu kỹ lưỡng để đảm bảo tính bảo mật cho chữ ký số khi cấp cho DN. Thứ hai là phải xác định người được cấp CKS phải đủ thẩm quyền về pháp lý, tránh nảy sinh vướng mắc.

Trân trọng cảm ơn ông!

 

Theo: Đại Đoàn Kết

Thêm một mốc son cho ngành Logistics Việt Nam

(Vietnam Logistics Review) Đến dự Lễ khánh thành Kho 5 – TBS Logistics có ông Trần Văn Nam – Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, lãnh đạo Thị ủy, UBND thị xã Dĩ An, cùng các Sở ban ngành của tỉnh Bình Dương; lãnh đạo APL Logistics, lãnh đạo TBS Group, TBS Logistics và đông đảo các đối tác, khách hàng của TBS Logistics.

Kho 5 có diện tích 47,500m2, với các trang thiết bị tiêu chuẩn, hiện đại như: Camera CCTV HD; hệ Thống báo cháy (fire alarm) và chữa cháy tự động (sprinkler); tôn lấy sáng, tiết kiệm năng lượng; phần mềm quản lý kho CFS; với 58 cửa nhập/xuất hàng và 174 cont cùng một lúc; sản lượng bình quân 8.000 khối/ ngày – tương đương 160 cont. Kho 5 là kho hàng hóa nằm trong hệ thống của TBS Logistics, tọa lạc tại địa chỉ số 09, đường DT 743, phường Bình Thắng, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Chủ tịch tập toàn TBS’s Group trao quà lưu niệm cho Mr. Komol – Lãnh đạo khu vực ĐNÁ

TBS Logistics được định vị nằm trong vùng trung tâm giáp ranh giữa Bình Dương, Đồng Nai và TP.HCM – một vị trí rất thuận lợi về giao thông vận tải bằng đường thủy, đường bộ có khả năng kết nối linh hoạt trong lưu thông hàng hóa với toàn vùng và hệ thống các cảng nước sâu quốc tế thuộc nhóm cảng biển Cái Mép – Thị Vải, giảm chi phí vận tải – logistics và gia tăng lợi thế cạnh tranh của hàng hóa xuất nhập khẩu. Do đó nhu cầu tạo thuận lợi cho hàng hóa xuất nhập khẩu là vô cùng quan trọng. Chính vì vậy, bằng khát vọng tạo nên giá trị cho khách hàng, nâng cao năng suất và hoàn thiện chức năng ngành logistics, TBS Logistics không ngừng hoàn thiện các giải pháp logistics một cách hiệu quả, cung cấp chất lượng dịch vụ cạnh tranh trên thị trường, tối ưu các giá trị cốt lõi trong từng hoạt động một cách linh hoạt, chuyên nghiệp, ứng dụng công nghệ và dịch vụ khách hàng vượt trội.

“Đây là một bước tiến lớn và tiến sâu của tập đoàn TBS trong lĩnh vực logistics, ngoài ra kho 5 đưa vào hoạt động cũng sẽ thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện hệ thống logistics cho khách hàng trong khu vực tỉnh Bình Dương….” – Ông Trần Văn Nam – Chủ tịch UBND Tỉnh Bình Dương.

Có thể nói rằng, hiện tại kho của TBS Logistics là nhà kho hiện đại với các thiết bị xếp dỡ, quản lý lưu trữ, an ninh hàng hóa, dịch vụ khai thuê hải quan, đóng gói, nhãn mác… với mong muốn trở thành trung tâm trọng điểm logistics đáng tin cậy tại Việt Nam và là đối tác logistics chiến lược của khách hàng trong nước và quốc tế. TBS Logistics hy vọng đóng góp vào sự phát triển chung của hệ thống logistics vùng kinh tế trọng điểm phía Nam – nơi mà lượng hàng container xuất nhập khẩu đến 80% của cả nước.

Lãnh đạo tỉnh Bình Dương cùng quan khách tham quan Kho 5 – TBS Logistics

Mỹ Duyên
Theo: Vietnam Logistics Review.

Khởi công dự án “Kho ngoại quan và Trung tâm Logistcis Khu Công nghệ cao”

Đây là dự án có tổng vốn đầu tư gần 600 tỷ đồng, tổng diện tích hơn 10 ha bao gồm kho ngoại quan, kho bảo thuế, kho CFS, kho thường, kho lạnh, và bãi chứa Container (chức năng là một ICD). Cùng với các tiêu chuẩn trang thiết bị tiên tiến như hệ thống camera 24/7, hệ thống khung kệ chứa hàng 7 tầng, hệ thống PCCC đạt tiêu chuẩn, phần mềm quản lý hiện đại…

Với vị trí nằm gần đường vành đai, kết nối với tam giác phát triển quanh Tp.HCM là Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu cùng với hệ thống cụm cảng số 5 trong đó có khu cảng chính của Tp.HCM. Trung tâm này sẽ tập trung phát triển dịch vụ logistics, tích hợp trọn gói và đồng bộ, tổ chức và hoạt động theo mô hình logistics bên thứ 3 (3PL) trên cơ sở phát triển quản trị chuỗi cung ứng hiện đại, hiệu quả, chuyên nghiệp.

Như vậy, đầu tháng 7 vừa qua, Thủ tướng chính phủ đã có quyết định về việc phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống trung tâm logistics trên địa bàn cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Lễ khởi công Kho ngoại quan và trung tâm logistics tại khu công  nghệ cao thật sự là một bước tiến quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển hơn 30 năm của Công ty Cổ phần Transimex-Saigon. Khi đi vào hoạt động vào tháng 3.2016, trung tâm logistics tại đây sẽ trở thành đơn vị nòng cốt trong lưu thông và phân phối hàng hoá, phục vụ đắc lực cho sản xuất cho khu vực phía Nam.

Mỹ Duyên
Theo: Vietnam Logistics review.

Thái Lan đề nghị mở tuyến xe buýt kết nối ba nước Việt Nam-Lào-Thái Lan

Phía Việt Nam đề nghị phía Thái Lan tạo điều kiện và giảm thiểu thủ tục hành chính cho tầu, hàng hóa, thuyền viên khi vào cảng Thái Lan; giảm các phí, lệ phí thủ tục xuất nhập cảnh cho tàu ở mức hợp lý.

Bên lề cuộc họp nội các chung Việt Nam-Thái Lan lần thứ 3 vừa diễn ra giữa Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Chính phủ Thái Lan Prayut Chan Ocha, đoàn công tác của Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam đã có buổi làm việc với Bộ Giao thông Vận tải Thái Lan xung quanh các nội dung triển khai hợp tác trong lĩnh vực giao thông vận tải mà hai nước đã trao đổi.

Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam có cuộc trao đổi với ông Phạm Thanh Tùng, Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế (Bộ Giao thông Vận tải) xung quanh những nội dung làm việc tại cuộc họp này.

– Là thành viên trong đoàn công tác của Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam sang làm việc với Bộ Giao thông Vận tải Thái Lan, ông có thể chia sẻ những nội dung chính mà hai bên đã trao đổi trong vấn đề hợp tác về giao thông vận tải? 

Ông Phạm Thanh Tùng: Trong chuyến đi tháp tùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm và làm việc tại Thái Lan vừa qua, đoàn đại biểu Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam do Thứ trưởng Nguyễn Nhật dẫn đầu đã có buổi làm việc với Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Thái Lan Prachin Chantong để tiếp tục triển khai các nội dung mà trước đó Bộ trưởng Bộ Giao thông Thái Lan đã làm việc song phương với Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng hồi tháng Năm vừa qua tại Hà Nội.

Tại cuộc họp lần này, Bộ Giao thông Vận tải hai nước đã trao đổi nhiều vấn đề lớn.

Về các vấn đề liên quan đến thúc đẩy vận tải đường bộ, đặc biệt là vận tải đường bộ qua trục Đông-Tây kết nối Việt Nam-Lào với Thái Lan, trước hết, phía Thái Lan đề nghị thống nhất mở tuyến xe buýt kết nối giữa ba nước Việt Nam-Lào-Thái Lan. 

Việc mở tuyến xe buýt này theo đánh giá không những đáp ứng nhu cầu chung của hai nước, nhưng trước hết là mong mỏi tha thiết của tỉnh Hà Tĩnh khi có tuyến xe buýt nối với các tỉnh Đông Bắc của Thái Lan.

Về mở tuyến xe buýt này, hai bên đã thống nhất sẽ có cuộc họp ba bên gồm Việt Nam, Lào và Thái Lan để họp bàn cụ thể, đặc biệt là kế hoạch triển khai chi tiết.

Trong cuộc họp cuộc họp ba bên đầu tiên này, phía Thái Lan đề nghị Việt Nam đứng ra chủ trì. Qua làm việc với Bộ Giao thông Công chính của Lào, phía Lào cũng đã thống nhất trong nửa cuối tháng Tám tới sẽ tổ chức cuộc họp này tại Hà Nội.

Để thúc đẩy hợp tác có hiệu quả kết nối giao thông giữa hai nước, Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam đề nghị bổ sung tuyến Nong Khai (Thái Lan)-Vientiane (Lào)-Hà Nội (Việt Nam). Lựa chọn một trong năm tuyến vận tải hành khách giữa Việt Nam-Lào-Thái Lan để thí điểm tổ chức mời các doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước giữa các bên cùng nhau tham gia khảo sát về hành trình, tuyến đường, nhu cầu vận chuyển hành khách, biển báo, cơ sở hạ tầng đường bộ giữa các bên…

Tại cuộc họp, hai bên nhất trí thành lập nhóm đặc trách chung để thực hiện nghiên cứu về phát triển vận tải ven bờ kết nối giữa Việt Nam-Campuchia-Thái Lan. Phía Thái Lan đã mời Campuchia tham gia nhóm công tác ba bên và đã đưa ra tại cuộc họp đề xuất chương trình hành động, nội dung bao gồm việc tổ chức ba cuộc họp nhóm công tác do các nước liên quan chủ trì và một chuyến khảo sát tuyến vận tải thương mại ven biển.

Cuộc họp đầu tiên của nhóm công tác sẽ do Thái Lan tổ chức và sẽ mời Việt Nam và Campuchia tham dự, dự kiến vào tháng Tám để xem xét dự thảo, điều khoản tham chiếu của nhóm công tác và trao đổi thông tin về các các cảng và hạ tầng hỗ trợ phát triển vận tải ven bờ.

Ngoài ra, trong lĩnh vực hàng hải, phía Việt Nam cũng đã đề nghị Thái Lan công nhận giấy chứng nhận khả năng chuyên môn cho thuyền viên theo Công ước STCW (Công ước Quốc tế về các tiêu chuẩn huấn luyện cấp bằng và trực ca cho thuyền viên) để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của các thuyền viên hai nước.

Phía Việt Nam đề nghị phía Thái Lan tạo điều kiện và giảm thiểu thủ tục hành chính cho tầu, hàng hóa, thuyền viên khi vào cảng Thái Lan; giảm các phí, lệ phí thủ tục xuất nhập cảnh cho tàu ở mức hợp lý.

Hai bên sớm thành lập nhóm nghiên cứu về tuyến vận tải ven bờ từ bờ biển phía Đông của Thái Lan tới bờ phía Nam của Việt Nam để thúc đẩy việc mở tuyến (nghiên cứu chủng loại hàng hóa, loại tàu, cảng biển kết nối…). Hai bên cũng thống nhất tạo thuận lợi cho hoạt động của các hãng hàng không hai nước.

Đối với các hãng hàng không liên doanh Việt-Thái, hai bên thống nhất Bộ Giao thông Vận tải Thái Lan sẽ hỗ trợ cho hoạt động của liên doanh, bao gồm chính sách ưu đãi và các hỗ trợ khác.

Liên doanh hàng không Thai-Vietjet đã chính thức được thành lập tại Thái Lan. Thai-Vietjet đang gấp rút hoàn tất các thủ tục cần thiết để chuẩn bị đi vào khai thác các chuyến bay thường lệ nội địa và quốc tế đến/đi từ Thái Lan vào tháng 9/2015.

Để tạo thuận lợi cho sự phát triển của liên doanh hàng không Thai-Vietjet, Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam đề nghị Bộ Giao thông Vận tải Thái Lan xem xét hỗ trợ sớm cấp phép khai thác thương lệ (AOL) cho liên doanh này. Đại diện của Cục Hàng không Thái Lan cũng đã trả lời trong tháng Tám này sẽ cấp phép cho liên doanh Thai-Vietjet thực hiện các chuyến bay trong nước và quốc tế.

– Để hiện thực hóa các nội dung hợp tác về giao thông vận tải đường bộ giữa hai nước, công tác chuẩn bị sẽ được thực hiện như thế nào, thưa ông? 

Ông Phạm Thanh Tùng: Về công tác chuẩn bị để hiện thực hóa các cam kết trên, trước tiên chúng tôi phải xem xét, bàn bạc cùng nhau các nội dung liên quan đến việc mở các tuyến vận tải như trên. Việc mở các tuyến này bao gồm những yếu tố để tạo thuận lợi cho các bên tham gia, bởi một trong những yếu tố để mở tuyến vận tải là nhu cầu, phải có nhu cầu thì mới mở tuyến được.

Như vậy, chúng ta phải có sự chuẩn bị, tiến hành khảo sát và có báo cáo đánh giá về nhu cầu hành khách vận chuyển từ Việt Nam thông qua các tuyến đường 9, đường 8, đường 12 sang Lào và Thái Lan với số lượng cụ thể. Ngược lại chúng ta cũng phải đề nghị với Thái Lan, Lào cũng phải chuẩn bị những thông số tương tự như vậy.

Vấn đề tiếp theo cũng phải bàn bạc và chuẩn bị đó là sẽ có những trở ngại như thế nào khi thực hiện những chuyến vận tải này; trong đó phải nêu rõ và chi tiết các điểm nghỉ, điểm dừng chân, thời gian cụ thể cho hợp lý và việc tổ chức tuyến, cũng phải thống nhất với nước bạn là khi trên tuyến đi qua các cửa khẩu hiện tại có vướng mắc gì không về thủ tục giấy tờ, kiểm soát an ninh, hải quan…. Tiếp theo là bàn về các vấn đề kỹ thuật, chủng loại xe là bao nhiêu, số lượng xe, tần xuất…

Nói tóm lại, tất cả các vấn đề liên quan cần phải chuẩn bị và trao đổi cụ thể. Hiện tại, Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam đã giao cho Tổng cục đường bộ Việt Nam chịu trách nhiệm nghiên cứu để đưa ra đề cương trao đổi, thảo luận giữa các bên và tiến tới thỏa thuận này sẽ được ký kết giữa ba Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải ba nước Việt Nam, Lào và Thái Lan.

Bên cạnh đó, cũng liên quan đến hành lang Đông-Tây, Việt Nam và Thái Lan tiếp tục trao đổi, bàn bạc các vấn đề liên quan đến phát triển vận tải du lịch như các thỏa thuận đã ký trước đó.

– Ông có thể đánh giá những khó khăn sẽ gặp phải khi thực hiện sự hợp tác vận tải đường bộ giữa hai nước? 

Ông Phạm Thanh Tùng: Có thể nói khi thực hiện các tuyến vận tải xuyên Quốc gia chúng ta phải lường trước rất nhiều những khó khăn. Ở đây, cụ thể khó khăn chính là cách thức tổ chức tuyến vận tải, vấn đề quảng bá, quảng cáo như thế nào…, việc tạo thuận lợi cho hành khách đi trên đường ra sao thì mới có thể duy trì được các tuyến vận tải đó một cách lâu dài, bền vững.

Nếu như chúng ta mở tuyến vận tải nhưng chi phí đi lại cao, dịch vụ kém thì sớm muốn sẽ thất bại, hành khách sẽ không đi nữa. Mặt khác, đây là tuyến vận tải xuyên quốc gia vì thế sự phối hợp giữa các cơ quan thực thi công vụ về kiểm tra, kiếm sát tại các cửa khẩu cũng rất phức tạp.

Để có sự thống nhất giữa các cơ quan này, đòi hỏi các cơ quan cửa khẩu của Việt Nam với Lào và giữa Lào với Thái Lan cần duy trì thông tin thông suốt giúp giải quyết các vấn đề phát sinh trên tuyến một cách nhanh nhất, qua đó tạo thuận lợi cho hành khách đi lại…

Theo: TTXVN/Vietnam+

Acmecs-6: đẩy mạnh hợp tác tiểu vùng Mê Kông – tiến đến AEC

(Vietnam Logistics Review) Với nỗ lực hợp tác khu vực cùng việc hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN vào cuối năm 2015 và triển vọng hoàn tất 14 Hiệp định thương mại tự do trong giai đoạn 2015-2020. Trong đó có Chiến lược Hợp tác kinh tế 3 dòng sông (ACMECS). VN sẽ trở thành một mắt xích quan trọng của mạng lưới liên kết kinh tế rộng lớn với 55 đối tác, bao gồm tất cả các trung tâm kinh tế hàng đầu thế giới như Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Nga, Nhật Bản, Trung Quốc.

KHU VỰC TIỂU VÙNG MÊ KÔNG

Khu vực tiểu vùng sông Mê Kông bao gồm Thái Lan, VN, Lào, Campuchia và Myanmar được đánh giá là khu vực quan trọng ở vùng Đông Nam Á, tập trung các nước nằm ở hạ lưu sông Mê Kông chạy từ vùng núi cao ở Trung Quốc và đổ ra Biển Đông. Với tổng diện tích 2,3 triệu km2, đông dân cư (320 triệu người), đa sắc tộc và có các nền văn hóa rất phong phú, lưu vực sông Mê Kông giàu tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho sản xuất nông, lâm nghiệp. Các nước Mê Kông duy trì mức tăng trưởng kinh tế khá, trung bình khoảng 6-7%/năm. Hiện có hơn 10 cơ chế hợp tác Mê Kông đang hoạt động và bổ trợ hữu hiệu cho hợp tác song phương giữa các quốc gia, thúc đẩy phát triển bền vững tại tiểu vùng. Trong đó, tiêu biểu phải kể đến khuôn khổ Chiến lược Hợp tác kinh tế 3 dòng sông (ACMECS) và Hợp tác tiểu vùng Mê Kông mở rộng (GMS).

Chiến lược ACMECS

ACMECS (lấy tên 3 dòng sông chính trong lưu vực sông Mê Kông) là khuôn khổ hợp tác kinh tế gồm 5 nước Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và VN nhằm tăng cường hợp tác kinh tế chung và song phương để khai thác và phát huy lợi thế so sánh giữa các vùng, các nước thành viên, nâng cao sức cạnh tranh, thu hẹp khoảng cách phát triển. ACMECS hình thành dựa trên sáng kiến của Thái Lan vào năm 2003 trong bối cảnh đã khắc phục hậu quả khủng hoảng tài chính năm 1997, muốn tranh thủ mở rộng thị trường, tận dụng tài nguyên, lao động của các nước láng giềng. Đến nay ACMECS được xác định với 8 lĩnh vực ưu tiên: tạo thuận lợi thương mại và đầu tư; nông nghiệp; hợp tác công nghiệp và năng lượng; kết nối giao thông du lịch; phát triển nguồn nhân lực; y tế và hợp tác về môi trường. VN chính thức tham gia ACMECS tại Hội nghị Bộ trưởng ACMECS lần thứ 1 tại Thái Lan, tháng 11.2004.

Sau hơn 10 năm, sự hợp tác chiến lược mà các nước thành viên ACMECS đã có những tiến triển tích cực. Nền kinh tế 5 nước đều đang khởi sắc, tăng trưởng tích cực và là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển bền vững ở khu vực Đông Nam Á. Sự hợp tác mạnh mẽ và gần gũi giữa các nước thành viên ACMECS sẽ có lợi cho khối ASEAN trên con đường xây dựng AEC, cũng như nâng cao tính cạnh tranh, vai trò và vị thế trong chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, nhất là cùng nằm trên giao lộ kết nối giữa Đông Nam Á và các thị trường rộng lớn như Trung Quốc và Ấn Độ. Kết quả hợp tác ACMECS, nhất là trong liên kết giao thông thông qua phát triển các tuyến Hành lang kinh tế Đông – Tây và Hành lang phía Nam đã góp phần cắt giảm chi phí giao thông, nâng cao tính cạnh tranh của khu vực.

Hội nghị cấp cao ACMECS lần thứ 6 diễn ra tại Myanmar vào ngày 23.6.2015 đã nhận được sự ủng hộ và đánh giá cao của các nước thành viên, đặc biệt là các chương trình hợp tác vì sự phồn thịnh của mỗi quốc gia, vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng của cả khu vực. Đánh giá về kế hoạch hành động giai đoạn 2013-2015, các nhà lãnh đạo cho rằng kế hoạch đã đạt tiến bộ nhất định, đặc biệt trong kết nối giao thông, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư giữa 5 nước, phát triển các hành lang kinh tế liên quốc gia như Hành lang kinh tế Đông – Tây, Hành lang kinh tế phía Nam, phát triển du lịch xanh và hợp tác nông nghiệp.

Hội nghị cũng thông qua kế hoạch hành động giai đoạn 2016-2018 với mục tiêu là nâng cao sức cạnh tranh của các nền kinh tế, đưa ACMECS thành điểm đến hàng đầu về đầu tư và du lịch, hình thành cơ sở sản xuất thống nhất trong khu vực ACMECS, đặc biệt ở các khu vực biên giới. Để khai thác triệt để tiềm năng hợp tác giữa các nước thành viên ACMECS, trong thời gian tới cần đặt trọng tâm vào các nội dung:

– Thứ nhất, thúc đẩy hợp tác về nông nghiệp – lĩnh vực có tiềm năng và là ngành sản xuất chiếm tỷ lệ lao động lớn nhất tại các nước ACMECS. Mục tiêu chính là hỗ trợ các nước thành viên nâng cao năng suất lao động thông qua thu hút đầu tư, tạo quy mô kinh tế lớn hơn và áp dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại; phát triển ngành công nghiệp chế biến để tăng hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp; hình thành các chuỗi giá trị nông nghiệp tại tiểu vùng, từng bước hội nhập vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Từ những kinh nghiệm của Thái Lan trong nỗ lực phát triển ngành chế biến và áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế cho các sản phẩm nông nghiệp, các nước thành viên ACMECS có thể học hỏi kinh nghiệm và tăng cường hợp tác trong việc xây dựng thương hiệu trong khu vực nông sản, nâng cấp các chương trình hợp tác với các đối tác và thu hút đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, hợp tác lúa gạo giữa các thành viên ACMECS cần tập trung vào lĩnh vực sản xuất và chuyển giao công nghệ trước và sau thu hoạch.

– Thứ hai, tạo thuận lợi cho giao thông và thương mại biên giới, đặc biệt là dọc các tuyến hành lang kinh tế tiểu vùng; thực hiện nghiêm túc các thỏa thuận song phương và đa phương đã ký kết; phối hợp xây dựng các chính sách mới thúc đẩy thương mại, đầu tư và hình thành các tuyến vận tải mới kết nối năm nước. Các nước cần sớm triển khai mô hình kiểm tra một lần dừng tại các cặp cửa khẩu dọc tuyến Hành lang kinh tế Đông – Tây và Hành lang kinh tế phía Nam.

– Thứ ba, hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Ayeyawady – Chao Phraya – Mekong, đặc biệt là trong quản lý và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu; phối hợp thực hiện đánh giá chung về tác động môi trường xuyên biên giới. Bên cạnh nguồn nội lực, các nước ACMECS cần phối hợp cùng vận động hỗ trợ từ các đối tác trong triển khai các dự án hợp tác.

Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất đối với hội nhập ASEAN chính là khoảng cách phát triển giữa các thành viên ASEAN, đặc biệt là giữa các nước Campuchia – Lào – Myanmar – VN với các nước ASEAN. Do đó, các nỗ lực hợp tác tiểu vùng Mê Kông có ý nghĩa lớn lao trong việc thu hẹp khoảng cách phát triển nhằm thúc đẩy hội nhập của các nước Campuchia – Lào – Myanmar – VN vào tiến trình phát triển chung của khu vực. Các hợp tác này một mặt phát huy lợi thế, tiềm năng sẵn có của các nước này, mặt khác là kênh kêu gọi hỗ trợ của các nước ASEAN khác và các đối tác phát triển.

Dương Ngọc

Theo: Vietnam Logistics Review

Xuất khẩu tiểu ngạch vẫn ùn ứ tại cửa khẩu

(Vietnam Logistics Review) Xuất khẩu tiểu ngạch thường tiềm ẩn nhiều bất ổn cũng như rủi ro từ việc thay đổi chính sách trong kiểm dịch, tiêu thụ… không được thông báo trước, hoặc do năng lực giao nhận, hạ tầng tại những lối mở không phát triển kịp làm giảm năng lực thông quan dẫn đến ùn tắc.

GIAN NAN XUẤT KHẨU THEO ĐƯỜNG TIỂU NGẠCH

VN là đất nước có nền sản xuất nông nghiệp rất lớn, do vậy việc tiêu thụ nông sản cho nông dân là hoạt động trọng tâm ưu tiên của Chính phủ cũng như của Bộ Công Thương. Tuy nhiên, đặc thù của nông sản khác với các mặt hàng công nghiệp là có độ hư hỏng nhanh, việc bảo quản phụ thuộc nhiều vào thời tiết, sản xuất nông nghiệp vẫn phải theo thời vụ gieo trồng, không chủ động được đơn hàng đặt trước, khâu tìm thị trường dẫn đến bị ảnh hưởng.

Hiện nay xuất khẩu nông sản của VN về cơ bản vẫn được tiến hành thông qua con đường chính ngạch với số lượng hợp đồng lớn, giao hàng qua qua đường biển chiếm 2/3 sản lượng xuất khẩu, chỉ có 1/3 hàng hóa nông sản xuất khẩu qua đường tiểu ngạch.

Ngoài ra, đặc thù của VN với các nước bạn có chung đường biên giới nên hoạt động thương mại qua biên giới sẽ là thành phần tất yếu trong giao dịch, giao thương giữa các nước. Vì vậy, những giao dịch này cũng có những quy luật khác, không giống thương mại quốc tế thông thường, do những chính sách của hai bên, có nước bạn hoạt động thương mại vùng biên do chính quyền địa phương điều tiết, không phụ thuộc vào chính sách quản lý thương mại của Trung ương, từ đó dẫn đến nhiều sự phụ thuộc, các xe chở gạo, nông sản cần phải có thời gian nhập kho bảo quản chờ
xuất khẩu.

Việc ùn ứ nông sản tại các cửa khẩu còn có nhiều nguyên nhân, điển hình là do thuế quan không đồng nhất. Như ở Lào Cai, hàng nông sản của TQ xuất sang thì thuế suất bằng 0%, trong khi hàng VN xuất sang lại bị đánh thuế cao như gạo là 17%, đường 60%, ngô có thời điểm lên tới 80%, nên bản thân DN bên họ nếu đi cửa khẩu chính cũng không còn lãi để mà đón hàng.

CẦN CÓ CHIẾN LƯỢC GIẢI QUYẾT

Những tháng đầu năm, liên tục xảy ra hàng nông sản VN ùn ứ tại các cửa khẩu, Bộ Công Thương đã kiến nghị các Bộ, ngành tiếp tục xem xét, bàn với địa phương có biện pháp thúc đẩy hơn nữa các hoạt động thông quan tại khu vực cửa khẩu biên giới với sự tham gia của lực lượng chức năng hai nước, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho DN đầu mối của hai bên.

“Chính phủ cần có biện pháp mang tính chiến lược, bắt buộc thực hiện cơ cấu lại nông nghiệp để gắn kết giữa khâu tiêu thụ, lưu thông và xuất khẩu với khâu sản xuất của người nông dân. Trong đó, đặc biệt tạo điều kiện cho người nông dân nâng cao trình độ và chất lượng canh tác thông qua mô hình sản xuất mới có quy mô lớn hơn, có điều kiện tiếp cận với DN, tạo liên kết với vùng nguyên liệu, hướng sản phẩm nông sản đạt đến những quy chuẩn chất lượng sản phẩm bền vững, từ đó tiến vào những thị trường lớn của thế giới với những yêu cầu khắt khe” – Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cho biết.

Thực tế này đã đặt ra rất nhiều vấn đề cho các cơ quan quản lý Nhà nước. Mặc dù giải quyết được khâu tiêu thụ nông sản cho người dân nhưng trong suốt thời gian qua, xuất khẩu tiểu ngạch luôn tiềm ẩn rủi ro nên đã có nhiều cơ quan đề xuất siết chặt xuất khẩu tiểu ngạch. Tuy nhiên, thương mại tiểu ngạch là thương mại truyền thống đã, đang và sẽ tồn tại giữa nhiều quốc gia có chung đường bộ, đường thủy. VN có đường biên giới dài nên thương mại tiểu ngạch là do nhu cầu có thật của thương nhân các nước với nhau. Xuất phát từ nhu cầu nên về khía cạnh nào đó, xuất khẩu tiểu ngạch đáp ứng được nhu cầu của DN, nhanh chóng, đàm phán đơn giản, giá cả, lợi nhuận có thể cao hơn, chất lượng mặt hàng không đòi hỏi cao, nhãn mác, sản phẩm, sở hữu trí tuệ cũng
không cần…

Đã có ý kiến cho rằng nên loại bỏ xuất khẩu theo đường tiểu ngạnh. Nhưng nhu cầu của người dân như vậy thì không thể hạn chế tiểu ngạch ngay được. Mà vấn đề được đặt ra là tìm được phương hướng lâu dài để giải quyết vấn đề.

Phương Duy
Theo: Vietnam Logistics Review

Ngày hội an toàn giao thông đồng bào các dân tộc Tây Nguyên

Chương trình được tổ chức với sự đồng hành của “Quỹ an toàn giao thông và phát triển cộng đồng”. Đến dự ngày hội có lãnh đạo Bộ GTVT; Ủy ban ATGT Quốc gia cùng đại diện lãnh đạo một số Bộ, ban, ngành Trung ương, đại diện lãnh đạo các tỉnh Tây Nguyên và giáp Tây Nguyên.

Ngày hội ATGT đồng bào các dân tộc Tây Nguyên năm 2015 được tổ chức với mục đích phát động các hoạt động nâng cao nhận thức, hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật trật tự ATGT của đồng bào các dân tộc khu vực Tây Nguyên, đặc biệt là những người dân sinh sống nơi có tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua.

Đây cũng là dịp vận động đồng bào các dân tộc Tây Nguyên tích cực tham gia vào công tác đảm bảo trật tự ATGT, bảo vệ các công trình giao thông, xây dựng hành vi có văn hoá khi tham gia giao thông.

Ngày hội đã thu hút trên 2.000 đoàn viên thanh niên cùng đồng bào các dân tộc tham gia và hưởng ứng. Nhiều hoạt động thiết thực đã được hưởng ứng như Lễ phát động kêu gọi đồng bào các dân tộc Tây Nguyên tham gia công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông; Lễ ký cam kết bảo đảm trật tự ATGT của các Ban ATGT các tỉnh Tây Nguyên.

Ngoài ra, nhiều phần quà, học bổng có ý nghĩa cũng đã được trao tặng cho các 15 đội Thanh niên xung kích tham gia bảo đảm trật tư an toàn giao thông; 1.000 mũ bảo hiểm đạt chuẩn cũng đã được trao cho Ban ATGT Tỉnh Đắk Lắk.

Cũng trong sáng 27/6, Bộ GTVT; Ủy ban ATGT Quốc gia cùng đại diện lãnh đạo một số Bộ, ban, ngành Trung ương, đại diện lãnh đạo các tỉnh Tây Nguyên và giáp Tây Nguyên đã tổ chức hội nghị “triển khai kế hoạch tăng cường bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn Tây Nguyên” để đưa ra những giải pháp nhằm góp phần đảm bảo trật tự ATGT trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, đặc biệt là sau khi  đưa vào khai thác dự án nâng cấp, mở rộng đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên và một số tuyến Quốc lộ trọng điểm trên địa bàn.

Theo: Vietnam Logistics Review.