Đà Nẵng sẽ trở thành trung tâm logistics tại miền Trung

Nghị quyết 43-NQ /TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã nêu rõ nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế của thành phố Đà Nẵng là “trở thành một trung tâm kinh tế biển, hình thành chuỗi cung ứng dịch vụ logistics tại miền Trung với vai trò trung tâm của Đà Nẵng”.

Vẫn trong tình trạng “tụt hậu”

Trước đó, vào tháng 7/2018, HĐND TP. Đà Nẵng cũng đã ban hành Nghị quyết về quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ logistics đến năm 2030, tầm nhìn 2050. Theo đó, Đà Nẵng đặt mục tiêu quy hoạch hệ thống trung tâm logistics gắn kết hợp lý với quy hoạch phát triển thương mại, công nghiệp, giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng khép kín của thành phố và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.

Mục tiêu tổng thể của Đà Nẵng là tận dụng kinh tế của địa phương để phát triển được hệ thống hạ tầng logistics đồng bộ, liên thông đủ năng lực đáp ứng nhu cầu dịch chuyển, xử lý dòng hàng hóa phát sinh của thành phố, các tỉnh lân cận và một phần lượng hàng hóa từ hành lang kinh tế Đông – Tây. Trong đó, cảng Liên Chiểu được xác định là cảng cửa ngõ của chuỗi cung ứng dịch vụ logistics trong các nước ASEAN và các nước châu Á – Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia ngành logistics hoạt động logistics ở Đà Nẵng đến nay vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng hiện có. Với một số nước trong khu vực ASEAN dù không có điều kiện địa lý tự nhiên thuận lợi, thì Việt Nam vẫn tụt hậu. Các dịch vụ hoạt động ở mảng đầu tư này còn rất manh mún, không có tính liên kết tạo chuỗi dịch vụ giữa các doanh nghiệp, chủ yếu chỉ là giao nhận vận tải cơ bản, chịu chi phí cao, phụ thuộc chỉ định dịch vụ của các tổ chức kinh tế nước ngoài với tỷ lệ dịch vụ chưa đến 30%; phạm vi hoạt động còn nhỏ hẹp (nội địa hoặc một vài nước trong khu vực).

Trên địa bàn có khoảng 100 doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực này nhưng vừa yếu lại vừa thiếu từ tài chính cho đến cơ hội kinh doanh. Đặc biệt thiếu trầm trọng nguồn nhân lực có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn trong lĩnh vực logistics. “Xét về tính thân thiện (thủ tục hải quan, quy trình kiểm hàng hóa, giấy phép…) của đội ngũ sở ngành quản lý, kiểm soát dịch vụ logistics chỉ được đánh thứ hạng C trong hệ thống dịch vụ công địaDự kiến tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển dịch vụ logistics trên địa bàn thành phố vào khoảng 13.695 tỷ đồng. Trong đó, nguồn vốn đầu tư phát triển các trung tâm logistics do UBND thành phố kêu gọi đầu tư, nguồn vốn đầu tư cải thiện kết nối giao thông đường bộ, nút giao thông thuộc địa phương quản lý do UBND thành phố đầu tư từ nguồn ngân sách địa phương; nguồn vốn đầu tư đường sắt kết nối từ cảng Liên Chiểu đến ga hàng hóa Kim Liên mới do Trung ương đầu tư; các tuyến đường bộ thuộc Trung ương quản lý cũng do Trung ương đầu tư. Tổng nhu cầu quỹ đất để thực hiện quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng ngành logistics thành phố Đà Nẵng đến năm 2045 ước khoảng 312ha.

phương.

Hành lang pháp lý còn thiếu minh bạch”, ông Lê Cảnh Dương, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư thành phố, hoạt động logistics ở Đà Nẵng nhận xét.

Hướng tới chuỗi cung ứng dịch vụ logistics tại miền Trung

Đề khắc phục tình trạng này, tại kỳ họp thứ 7 HĐND TP. Đà Nẵng khóa IX mới đây, đã thông qua Nghị quyết về quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng ngành dịch vụ logistics đến năm 2030 tầm nhìn 2050. Nghị quyết xác định ưu tiên thu hút đầu tư vào các cơ sở hạ tầng logistics nhằm lựa chọn nhà đầu tư đủ năng lực, đạt hiệu quả cao, đơn giản hóa các thủ tục, tránh chồng chéo nhiệm vụ quyền hạn giữa các cơ quan liên quan.

Thành phố đã đề ra các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của dịch vụ logistics gồm khắc phục yếu kém của doanh nghiệp logistics nội địa so với các đối thủ quốc tế; tăng cường hợp tác, liên kết hoạt động logistics giữa doanh nghiệp trong khu vực, tạo dựng lợi thế cạnh tranh riêng biệt về dịch vụ logistics cho các doanh nghiệp logistics nội địa và các giải pháp về nguồn nhân lực.

UBND TP. Đà Nẵng đã phê duyệt quy hoạch chi tiết đầu tư xây dựng trung tâm logistics có tổng diện tích sử dụng 20ha tại các xã Hòa Sơn và Hòa Nhơn thuộc huyện Hòa Vang, giao Công ty Cổ phần Cảng Đà Nẵng có trách nhiệm thực hiện các bước xây dựng cơ bản tiếp theo.

Về quy mô, trung tâm logistics Đà Nẵng sẽ bao gồm Trung tâm logistics cảng Liên Chiểu, Trung tâm logistics Hòa Nhơn, Trung tâm logistics ga hàng hóa Kim Liên mới, Trung tâm logistics cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, Trung tâm logistics Công nghiệp Khu công nghệ cao, các trung tâm logistics nhỏ lẻ và các kho bãi khác. Đồng thời, Đà Nẵng tập trung quy hoạch, cải thiện hệ thống giao thông kết nối, xây dựng mới một đường sắt khổ đơn lồng kết nối trực tiếp ga hàng hóa đường sắt Kim Liên với trung tâm logistics cảng Liên Chiểu. Xây dựng tuyến đường bộ kết nối cảng Liên Chiểu với quốc lộ 1 phía Nam hầm Hải Vân…

Ông Đặng Việt Dũng – Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng cho biết, dự kiến đến 2020 trung tâm logistics trên địa bàn thành phố sẽ đáp ứng 25% về lượng xử lý logistics cho luồng hàng hóa qua cảng biển, 2025 là 30%, 2030 là 35%, đến 2050 là 55%. Đối với luồng hàng hóa qua cảng hàng không tương ứng là 10%, 15%, 20%, 40%. Đối với luồng hàng hóa qua đường sắt 2030 là 20%, 2050 là 40%. “Trung tâm logistics có khả năng cung cấp một số dịch vụ logistics cạnh tranh trao đổi hàng hóa quốc tế trung chuyển trên hành lang kinh tế Đông – Tây vào ra cảng biển Đà Nẵng, hình thành chuỗi cung ứng dịch vụ logistics tại miền Trung với vai trò trung tâm của Đà Nẵng như tinh thần Nghị quyết 43 của Bộ Chính trị đã nêu rõ”, ông Dũng khẳng định.

Theo: Vietnam Logistics Review.

Thay đổi xúc tiến xuất khẩu trong thời đại số

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng, đặt ra yêu cầu hoạt động xúc tiến XK cần thay đổi theo hướng thiết thực, phù hợp hơn. Giờ đây, xúc tiến không phải chỉ nhìn vào thị trường mà là nhìn vào đối tác, đồng thời hoạt động của các hiệp hội, ngành hàng phải thực sự đồng hành, hỗ trợ sát sườn cho DN.

Xúc tiến XK hàng hóa không chỉ xoáy vào yếu tố thị trường mà cơ bản nhất là đối tác

Xúc tiến XK hàng hóa không chỉ xoáy vào yếu tố thị trường mà cơ bản nhất là đối tác

DN trầy trật “bơi”

Trong câu chuyện xúc tiến XK của DN mình, ông Hồng Minh Đức, chủ một DN chuyên XK chè hữu cơ cho hay: Khởi nghiệp từ năm 2003, song đến năm 2013, DN vẫn trầy trật trong XK chè sang châu Âu vì ấn tượng xấu của thị trường này đối với chè Việt Nam. Theo ông Đức, người châu Âu ấn tượng xấu với chè Việt Nam do bị dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, chất lượng không đạt tiêu chuẩn. “Chúng tôi đã phải lái xe lòng vòng ở châu Âu để gặp từng DN chế biến chè thô. Năm đầu tiên, không DN nào muốn tiếp chúng tôi và lấy lí do là bận. Năm thứ hai, chúng tôi liên tục gửi mẫu chè sang nhưng bị chối. Chúng tôi cứ tiếp tục kiên trì gửi mẫu và cuối cùng họ đã chấp nhận thử, ấn tượng với sản phẩm. Sau nhiều năm nỗ lực xúc tiến XK chè sang châu Âu, xuất phát chỉ 2 -3 sản phẩm, đến nay công ty đã có 30 sản phẩm chè XK. Mặc dù còn nhiều khó khăn cần giải quyết nhưng DN đã tự tin hơn vào sản phẩm của mình, tiến tới thúc đẩy tìm các thị trường mới “, ông Đức chia sẻ.

Xung quanh câu chuyện xúc tiến XK của Việt Nam, PGS. TS Nguyễn Văn Nam-Chủ tịch Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh lại phân tích từ góc độ vì sao hàng Việt vẫn chưa thực sự thâm nhập tốt vào các thị trường. Theo ông Nam, những tiêu chuẩn về chất lượng, tiêu chuẩn về môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm… của Việt Nam không được làm đầy đủ, đồng bộ, được cái này mất cái kia. Bên cạnh đó, quy định của Việt Nam có những thứ lệch, thấp hơn chuẩn nước ngoài. Sản phẩm đạt được yêu cầu, quy định của Việt Nam nhưng lại không đạt được yêu cầu, quy định của các nước. Chính vì vậy, hàng Việt Nam khi vào các thị trường còn phải qua nhiều khâu kiểm dịch, kiểm định chất lượng.

Ngoài ra, DN Việt khi XK còn chưa nắm vững được nhiều yếu tố như luật lệ, thủ tục hành chính, thực tế của chính sách, tiêu chuẩn… từng thị trường. Trong khi đó, cơ quan nhà nước lại chỉ phổ biến chung chung, không có xúc tiến cụ thể. DN phải tự mày mò tìm hiểu nhu cầu từng thị trường để đưa ra sản phẩm đạt yêu cầu. “Kinh nghiệm cho thấy, với mỗi Hiệp định thương mại tự do (FTA) mới mà Việt Nam tham gia thường xảy ra tình trạng, hàng các nước NK vào Việt Nam tăng nhanh chóng nhưng hàng XK Việt Nam vào các nước luôn chậm nhịp mất vài năm. Cản trở này không phải là lớn, DN Việt đều có thể vượt được nhưng cần có thời gian. Đòi hỏi đặt ra là cả DN và cơ quan quản lý nhà nước phải năng động hơn, tăng cường hợp tác trong công tác xúc tiến thương mại”, ông Nam nhấn mạnh.

Xúc tiến nhắm vào đối tác

Xung quanh câu chuyện xúc tiến XK, chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành phân tích: Việt Nam tham gia tới 16-17 FTA và đang đẩy mạnh xúc tiến theo các FTA. Ví dụ, Việt Nam có lợi thế về đồ gỗ, dệt may, da giày, nông sản, có thể XK được nhưng hàng hóa phải đáp ứng nguyên tắc xuất xứ, hiểu thị trường, kết nối được với nhà phân phối. Đây là cách Việt Nam vẫn đang làm và cách làm này quan trọng với nhiều lĩnh vực của Việt Nam.

Cách xúc tiến thứ hai rất nhiều DN Việt Nam không biết. “Ví dụ, khi DN đang cung ứng chi tiết cho Samsung thì có phải XK không? Đó chính là DN là đang XK. Nhiều người hiểu rằng, XK là phải bán hàng đi và được trả ngoại tệ, song không phải như vậy. Ngoại tệ chỉ là phương thức thanh toán. Thực tế, khách du lịch đến Việt Nam là Việt Nam đang XK du lịch. Sinh viên quốc tế đến học tại Việt Nam cũng là XK… Xúc tiến XK nhiều khi không phải chạy ra nước ngoài mà làm việc ngay với các đơn vị như Samsung, Boing (Tập đoàn FPT ngồi viết phần mềm cho Boing cũng là XK)… Đây là một cách tiếp cận rất quan trọng. Đó là sự vươn lên, từ người làm thuê thành người làm chủ logistic, làm chủ phân phối”, chuyên gia Võ Trí Thành nhấn mạnh.

Cũng theo chuyên gia Võ Trí Thành, điểm quan trọng trong xúc tiến thương mại hiện nay là Việt Nam phải nhìn thị trường không chỉ ở một quốc gia mà là ở tầm kết nối quốc gia, khu vực và toàn cầu. Xúc tiến thương mại cũng không chỉ xoáy vào yếu tố thị trường mà cơ bản nhất là đối tác. Bởi, một công ty ở Việt Nam, ở Mỹ nhưng ông chủ có thể lại ở Hàn Quốc. “Vấn đề sở hữu có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Đối tác không phải chỉ để cùng XK mà phải xúc tiến cả NK, là yếu tố đầu vào, là chuỗi cung ứng… , như vậy phải xúc tiến cả XK lẫn NK. Nhiều đơn vị trung gian hiện nay là đối tác đầu vào quan trọng cho DN. Các câu chuyện như Việt Nam phải chơi với đối tác đầu vào nào để hợp với FTA nào mà Việt Nam tham gia là việc mà Bộ Công Thương phải xem xét, triển khai”, chuyên gia Võ Trí Thành nói.

Thay “áo mới” cho hiệp hội

Đứng từ góc độ DN, giám đốc một công ty chuyên XK nông sản cho rằng: Phải thay đổi tư duy trong xúc tiến thương mại. Điều gì Nhà nước làm được thì cứ làm. Điều gì DN làm được thì phải tự làm, phải tự cứu mình. Vị này chia sẻ đã từng làm công tác thương vụ tại nước ngoài trước khi chuyển sang làm DN. Trên thực tế, thương vụ khá bận, thường xuyên phải đón khách, ít có thời gian cho khâu xúc tiến, cần có cách tiếp cận khác. “Tại sao không thể có thương vụ nhân dân? Hiệp hội chính là để lo việc này. Hiệp hội có thể thành lập văn phòng xúc tiến thương mại. Tài chính sẽ do các thành viên đóng góp. DN nào sử dụng thông tin tư vấn, tiến hành kiểm tra đối tác tại nước ngoài thì DN đó phải trả tiền. Nhân sự của văn phòng này có thể là chính các sinh viên Việt Nam tốt nghiệp ở nước ngoài. Tôi đề nghị hiệp hội thành lập văn phòng xúc tiến thương mại nước ngoài, quy mô từ nhỏ đến lớn. Ban đầu có thể văn phòng này chỉ có 1-2 người để mức chi phí bỏ ra thấp nhất và thu về hiệu quả cao nhất”, vị đại diện DN bày tỏ quan điểm.

Góp thêm quan điểm cho vấn đề này, nhìn từ góc độ ngành chè, ông Đức phân tích: Hiện nay, nguồn lực của các DN trong ngành chè còn hạn chế. Để XK sản phẩm sang các thị trường khó tính, DN cần duy trì sản xuất, chứng nhận, nắm bắt xu thế mới, phát triển thị trường mới. Tuy nhiên, nguồn lực của DN chỉ cho phép tập trung vào 1 – 2 vấn đề trọng tâm gồm phát triển dịch vụ khách hàng và phát triển sản phẩm. “Các việc khác như duy trì chứng nhận, thông tin thị trường thì cơ quan quản lý và hiệp hội, ngành hàng sẽ hỗ trợ DN. Hiệp hội nên thay đổi cách làm như mô hình cũ mà thay vào đó hoạt động như một DN, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ mà DN cần. Nhà nước sẽ đóng vai trò như một đơn vị cung cấp thông tin cho DN”, ông Đức nói.Theo Chương trình Xúc tiến thương mại Quốc gia năm 2019 được Bộ Công Thương phê duyệt: Chương trình gồm 201 đề án của các đơn vị chủ trì, với tổng kinh phí là 125 tỷ đồng. Các nội dung được tập trung hỗ trợ bao gồm: 8 đề án về quảng bá, thông tin, truyền thông; 14 đề án hội chợ định hướng XK tại Việt Nam, hội chợ phát triển thương mại biên giới; 29 đề án tổ chức hội chợ triển lãm thương mại tại nước ngoài; 20 đề án tổ chức đoàn giao dịch xúc tiến thương mại tại nước ngoài; 11 đề án tổ chức hội nghị quốc tế ngành hàng, đón các nhà NK vào Việt Nam mua hàng; 13 đề án tổ chức hội chợ vùng, hội chợ phát triển thị trường nội địa; 17 đề án tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực xúc tiến thương mại; 89 đề án tổ chức phiên chợ đưa hàng Việt về nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo.

Theo Báo Hải Quan Online

Cảng Hải Phòng liên tiếp đón tàu “khủng”

Những ngày gần đây, Công ty Cảng container quốc tế Hải Phòng (cảng HICT) liên tiếp đón tàu trọng tải lớn quốc tế.

Tàu mẹ NorthernJaguar2 cập cảng làm hàng tại cảng HITC

Tàu mẹ NorthernJaguar2 cập cảng làm hàng tại cảng HITC

Ngày 29/4, cảng HICT đón thành công tàu mẹ Kota Panjang sức chở 12.000 TEU, trọng tải 132.000 DWT, chiều dài 330m. Tàu Kota Panjang là tàu mẹ của liên minh 3 hãng tàu Wan Hai (Đài Loan), Cosco (Trung Quốc), PIL (Singapore), khai thác thường xuyên tại cảng HICT trên tuyến dịch vụ CP1/SEA/AC5 kết nối trực tiếp miền Bắc Việt Nam với khu vực bờ Tây Hoa Kỳ theo hải trình HICT – Nansha – Hong Kong – Yantian – Long Beach – Oakland – Yantian. Trước đó, ngày 11/4, Cảng HICT đón thành công tàu mẹ Northern Jaguar của hãng tàu Ocean Network Express (ONE) vào làm hàng. Tàu Northern Jaguar có trọng tải 108.700 DWT, sức chở 8.814 TEU, chiều dài 334m.

Hiện, sản lượng hàng qua cảng Hải Phòng chiếm 16% cả nước; riêng sản lượng container chiếm 27%. Tỷ trọng này tiếp tục nâng lên trong thời gian tới khi xu hướng các tàu lớn của các liên minh hãng tàu lớn trên thế giới liên tục cập cảng biển Hải Phòng để làm hàng.Theo baogiaothong.vn

Tăng cường kết nối, gia tăng giá trị hàng nông – thủy sản ĐBSCL

Ngày 23/4, UBND TP. Cần Thơ phối hợp cùng Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) tổ chức hội thảo “Tăng cường tính kết nối nhằm cải thiện chuỗi giá trị hàng nông sản và thủy sản của đồng bằng sông Cửu Long”.

Quang cảnh Hội thảo (Ảnh: Phó Bá Cường)

Quang cảnh Hội thảo (Ảnh: Phó Bá Cường)

Hội thảo thu hút sự tham dự của gần 200 đại diện đến từ các cơ quan quản lý Nhà nước trung ương và địa phương, các hiệp hội ngành nghề, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hàng nông sản và thủy sản, các doanh nghiệp vận tải, logistics,… Đặc biệt trong dịp này các doanh nghiệp trong nước có cơ hội gặp gỡ, trao đổi với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu (XNK) hàng nông sản và thủy sản, dây chuyền cung ứng hàng lạnh đến từ Hàn Quốc và Cảng Pyeongteak.

Thực trạng và những thách thức trong quản trị chuỗi cung ứng

Việt Nam là nước nhiệt đới, thuận lợi phát triển ngành nông nghiệp, trong đó có trồng cây ăn quả. Tính riêng 15 loại cây ăn quả có diện tích trên 10 ngàn hecta/loại, hiện chiếm hơn 86% tổng diện tích. Trong đó, ĐBSCL là vùng cây ăn trái chủ lực, chiếm 50% tổng diện tích và 60% sản lượng trái cây của cả nước (theo VINAFRUIT).

Việt Nam hiện đang là 1 trong 5 quốc gia xuất khẩu (XK) thủy sản hàng đầu thế giới với tỷ lệ XK cao sang các thị trường hàng đầu thế giới như Mỹ, EU, Nhật, đứng thứ 3 thế giới về nuôi trồng thủy sản (sau Trung Quốc, Ấn Độ). Tổng sản lượng thủy sản 2018, cả nuôi trồng và đánh bắt, là 7,74 triệu tấn, giá trị xuất khẩu đạt 8,9 tỷ đô la Mỹ, trong đó chủ yếu là khu vực ĐBSCL chiếm 4% – 5% GDP (theo VASEP).

Ông Trương Quang Hoài Nam - Phó Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ phát biểu khai mạc tại Hội nghị (Ảnh: Phó Bá Cường)

Ông Trương Quang Hoài Nam – Phó Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ phát biểu khai mạc tại Hội nghị (Ảnh: Phó Bá Cường)

Ông Trương Quang Hoài Nam, Phó Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ, cho rằng: “Hệ thống logistics của ĐBSCL đang có nhiều vấn đề vướng mắc cần tháo gỡ. Cảng Cái Cui dù được kỳ vọng có thể đưa hàng hóa XK cho vùng nhưng trên thực tế tàu tải trọng lớn không vào cảng được do vướng luồng vào. Hiện tại, Cần Thơ đã quy hoạch hơn 242ha tại Cảng Cái Cui để làm trung tâm logistics hạng II, với hy vọng đây sẽ là cơ sở tác động giảm chi phí logistics cho doanh nghiệp XK hàng nông thủy sản”.

Ông Lê Duy Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội VLA cho rằng chi phí logistics cho hàng nông thủy sản xuất khẩu tại ĐBSCL hiện nay là khá cao (Ảnh: Phó Bá Cường)

Ông Lê Duy Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội VLA cho rằng chi phí logistics cho hàng nông thủy sản xuất khẩu tại ĐBSCL hiện nay là khá cao (Ảnh: Phó Bá Cường)

Ông Lê Duy Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam phát biểu tại hội thảo: “Xuất khẩu nông thủy hải sản đã và đang là thế mạnh của của Việt Nam nói chung cũng như của đồng bằng sông Cửu Long và TP. Cần Thơ nói riêng, đóng góp đáng kể vào tổng kim ngạch XNK của nước ta cũng như sự phát triển của ngành dịch vụ logistics Việt Nam. Tuy nhiên qua các số liệu thống kê trong ít nhất 5 năm trở lại đây, chi phí logistics cho XK thủy sản và trái cây chiếm tỷ lệ vào khoảng 20% – 25% , như vậy là khá cao so với các nước trong khu vực (vào khoảng 10% – 15%), kết nối hạ tầng logistics tại khu vực ĐBSCL còn nhiều bất cập, ngay cả các cơ quan chức năng TW và địa phương còn chưa rõ nên đẩy mạnh theo hướng nào”.

Tại hội thảo, PGS.TS. Hồ Thị Thu Hòa, Viện trưởng Viện nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam (VLI) chia sẻ về những thách thức mà ngành logistics ĐBSCL đặc biệt là logistics nông sản. đang gặp phải. “Tính kết nối giữa ĐBSCL và thị trường XNK còn kém, khả năng kết nối giao thông nội vùng bị hạn chế; thiếu các trung tâm logistics trọng điểm, bãi container rỗng, hệ thống kho lạnh cho sản phẩm nông nghiệp và thủy sản ở các cảng, nguồn nhân lực còn hạn chế về cả số lượng lẫn chất lượng” – PGS.TS Hồ Thị Thu Hòa chia sẻ.

Giải pháp tăng hiệu quả vận tải và giảm chi phí logistics

Việc phát triển ngành dịch vụ logistics ở Cần Thơ nói chung và xây dựng phát triển một trung tâm logistics hạng II cấp vùng ở Cần Thơ là nhu cầu cách bách và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế vùng ĐBSCL, cũng như chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước ta.

Phiên thảo luận về các giải pháp tăng hiệu quả vận tải và logistics (Ảnh: Phó Bá Cường)

Phiên thảo luận về các giải pháp tăng hiệu quả vận tải và logistics (Ảnh: Phó Bá Cường)

Theo ông Nguyễn Minh Toại, Giám đốc Sở Công thương TP. Cần Thơ, để xây dựng phát triển Cần Thơ trở thành trung tâm logistics vùng ĐBSCL, cần thực hiện đồng bộ những giải pháp sau: Một là, nâng cao chất lượng dịch vụ thông qua việc thu hút đầu tư trong và ngoài nước phát triển logistics; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, vận hành, đào tạo chuỗi cung ứng logistics; dịch vụ logistics với các ngành sản xuất, xuất nhập khẩu, lưu thông hàng hóa trong nước; Hai là, tập trung đầu tư cải tạo, nâng cấp và phát triển thêm hệ thống các kho ngoại quan tại các cảng đầu mối theo hướng hiện đại hóa, tăng lưu lượng hàng hóa qua các cảng, giúp hàng hóa được thông quan thuận tiện, giảm chi phí xuất nhập khẩu; Ba là, cần quan tâm đào tạo phát triển và thu hút nguồn nhân lực cho lĩnh vực logistics, cho cán bộ quản lý và doanh nghiệp trên địa bàn thành phố”.Hội thảo tạo ra diễn đàn trao đổi, thảo luận với các chuyên gia, các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước về các vấn đề tồn tại và đưa ra các giải pháp, các mô hình vận tải và logistics hiệu quả để cắt giảm chi phí logistics hướng đến thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh công tác xuất nhập khẩu hàng nông sản và thủy sản tại Cần Thơ và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Ông Nguyễn Thanh Bình, Trưởng ban Logistics Hiệp hội VLA, đánh giá: “ĐBSCL có rất nhiều tiềm năng nhưng vẫn chưa cất cánh. Muốn có nguồn hàng, có ngành dịch vụ logistics chuẩn và đủ lớn để đáp ứng yêu cầu phát triển thì cần những người tiên phong trong lĩnh vực này, nhất là các nhà quản lý địa phương. ĐBSCL nếu có trung tâm logistics đủ lớn sẽ giảm chi phí một cách bài bản cho vùng. Đồng thời phải tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin giữa các địa phương trong vùng ĐBSCL. Các công ty logistics cũng cần có nguồn hàng ổn định để thiết kế bài toán phát triển”.

Cũng theo PGS.TS. Hồ Thị Thu Hòa, các đơn vị XK nông sản cần quan tâm các phương án dịch vụ logistics để giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất; Tăng tỷ lệ thuê ngoài logistics để tăng tính chuyên môn hóa, giảm tỷ lệ hao hụt, tổn thất; Kết hợp với các doanh nghiệp trong sử dụng dịch vụ logistics để tận dụng lợi thế nhờ quy mô; tạo sức mạnh của mạng lưới chủ hàng.

Trung tâm Xúc tiến Đầu tư - Thương mại và Hội chợ triển lãm Cần Thơ, Tổng công ty Cảng biển Pyeongtaek - Hàn Quốc và Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam ký kết Thỏa thuận hợp tác ba bên nhằm thúc đẩy mối quan hệ giao thương và phát triển ngành logistics (Ảnh: Phó Bá Cường)

Trung tâm Xúc tiến Đầu tư – Thương mại và Hội chợ triển lãm Cần Thơ, Tổng công ty Cảng biển Pyeongtaek – Hàn Quốc và Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam ký kết Thỏa thuận hợp tác ba bên nhằm thúc đẩy mối quan hệ giao thương và phát triển ngành logistics (Ảnh: Phó Bá Cường)

Còn đối với đơn vị cung cấp dịch vụ logistics, liên kết các đơn vị để tạo chuỗi dịch vụ tại ĐBSCL giúp khách hàng giảm chi phí, thời gian; Thiết lập địa điểm tập kết container chuẩn trong hệ thống khai thác của hãng tàu cho khu vực ĐBSCL ở Cần Thơ hoặc lân cận để có địa điểm tập kết container rỗng, qua đó khuyến khích phát triển vận tải thủy.

Đối với các cơ quan quản lý, cần chú trọng quy hoạch mạng lưới hạ tầng logistics (hạ tầng cứng bao gồm hạ tầng giao thông và trung tâm logistics và hạ tầng mềm ICT) và đầu tư hạ tầng cho khu vực, đặc biệt hạ tầng vận tải thủy nội địa; Truyền thông về kết nối hạ tầng logistics cho các tuyến, luồng hàng hóa, định tuyến lại để phục vụ tăng trưởng xuất khẩu nông sản khu vực ĐBSCL; Có chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho ngành dịch vụ logistics.

Theo Vietnam Logistics Review.

Việt Nam – Hà Lan hợp tác phát triển logistics trong nông nghiệp

Ngày 11/4/2019, Hội thảo bàn tròn Hợp tác Đường thủy Việt Nam – Hà Lan với chủ đề “Hướng tới Hành lang logistics nông nghiệp (agro-logistics) đa phương thức và bền vững đồng bằng sông Mê Kông” sẽ diễn ra tại TP. HCM. Đây là một hoạt động quan trọng và có nhiều ý nghĩa được tiến hành bên lề chuyến thăm Việt Nam chính thức của Thủ tướng Hà Lan Mark Rutte. Tháp tùng Thủ tướng có các quan chức cấp cao Chính phủ Hà Lan và hơn 70 công ty của Hà Lan hoạt động trong nhiều lĩnh vực, trong đó lĩnh vực logistics.

Ngài Willen Schoustra - Tham tám nông nghiệp Hà Lan tại Việt Nam (thứ 2 từ phải sang trái) tại sự kiện Hortex Vietnam 2019

Ngài Willen Schoustra – Tham tám nông nghiệp Hà Lan tại Việt Nam (thứ 2 từ phải sang trái) tại sự kiện Hortex Vietnam 2019

Hà Lan là một đất nước có nền nông nghiệp phát triển, đóng góp giá trị hơn 10% tổng sản phẩm xã hội và thương mại thặng dư hơn 40% trị giá 20 tỷ Euro. Ngành dịch vụ logistics nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong thành tích này. Tại Hội thảo bàn tròn này, các doanh nghiệp Hà Lan chia sẻ kinh nghiệm trong việc phát triển logistics nông nghiệp và kết nối việc phát triển các trung tâm nông nghiệp với việc phát triển các trung tâm cảng biển và đường thủy, một trong những ưu tiên phát triển của Hà Lan và Việt Nam.

Đây là một bài học tốt cho Việt Nam trong việc phát triển logistics và giao thông thủy của đồng bằng sông Cửu Long. Tại Hội thảo này, Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) cũng sẽ có bài trình bày để các doanh nghiệp Hà Lan hiểu được hiện trạng của ngành dịch vụ logistics Việt Nam nói chung và ngành dịch vụ logistics nông nghiệp của Đồng bằng sông Cửu Long, những vấn đề khó khăn trước mắt và hướng phát triển của dịch vụ logistics nông nghiệp để có thể tìm ra hướng tối ưu hóa khả năng kết nối nhằm tạo thuận lợi cho kinh tế phát triển và cải thiện tính kết nối với các địa phương trong nước nhằm phát triển thương mại. Tìm ra cách hợp tác phát triển ngành dịch vụ này giữa Việt Nam và Hà Lan.

Nằm trong chuỗi hoạt động chung Việt Nam – Hà Lan, trước đó ngày 15/3/2019 tại TP.HCM, hơn 100 đại biểu chủ yếu từ các công ty rau quả và logistics Việt Nam và Hà Lan đã tham gia Hội thảo về Các cơ hội dây chuyền giá trị lưu chuyển hàng nông nghiệp – thực phẩm trong khuôn khổ Hortex Vietnam 2019 “Thúc đẩy quá trình chuyển đổi” ở TP. HCM, do Postharvest Network phối hợp với Trường đại học & Nghiên cứu Wageningen, Đại sứ quán Hà Lan tại Việt Nam và VLA tổ chức.

Các đại biểu đã thảo luận biện pháp để Việt Nam có thể thúc đẩy giây chuyền giá trị cung ứng lưu thông hàng thực phẩm nông nghiêp và giảm thiểu hao hụt trong quá trình lưu chuyển này.

Ông Đào Trọng Khoa, Phó Chủ tịch Hiệp hội VLA trình bày về dây chuyền cung ứng lạnh của Việt Nam tại Hortex Vietnam 2019

Ông Đào Trọng Khoa, Phó Chủ tịch Hiệp hội VLA trình bày về dây chuyền cung ứng lạnh của Việt Nam tại Hortex Vietnam 2019

Tại Hội thảo này, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), Đào Trọng Khoa đã có bài trình bày chi tiết về “Dây chuyền cung ứng lạnh tại Việt Nam: Tình hình phát triển hiện nay tại Việt Nam”, nêu bật cơ hội phát triển dịch vụ logistics cung ứng hàng lạnh và khả năng hợp tác giữa Việt Nam với các doanh nghiệp Hà Lan giàu kinh nghiệm, nhằm thúc đẩy thương mại hàng hải sản đông lạnh và hàng rau quả với trọng tâm là khu vực đồng bằng sông Mê Kông.Tiếp theo các Hội thảo trên đây, với mục tiêu hợp tác và phát triển ngành dịch vụ logistics, trong đó có logistics nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long như khuyến nghị của VLA với Chính phủ được nêu trong Sách trắng VLA 2018, ngày 23/4/2019, Hiệp hội VLA phối hợp cùng UBND TP. Cần Thơ tổ chức Hội thảo về “Tăng cường tính kết nối nhằm cải thiện chuỗi giá trị hàng nông – thủy sản của đồng bằng sông Cửu Long” tại Khách sạn Vinpearl Cần Thơ. Đây sẽ là một dịp tốt nữa để các doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu, logistics trong khu vực thảo luận các biện pháp phất triển ngành dịch vụ logistics trong nông nghiệp của nước ta.Nguyễn Tương

Theo: Vietnam Logistics Review

Triển lãm VIPILEC 2019 lần I – Lối đi mới của ngành logistics tại Việt Nam

Buổi sáng ngày 4/4/2019, tại Trung tâm hội nghị Deutsches Haus – Regus, Tp. Hồ Chí Minh sẽ diễn ra họp báo lần thứ nhất của VIPILEC 2019 – Triển lãm quốc tế về cơ sở hạ tầng cảng biển và logistics tại Việt Nam (VIPILEC 2019 ), đánh dấu sự hợp tác chính thức của đơn vị tổ chức triển lãm UBM kết hợp cùng Informa. VIPILEC 2019 nhận được bảo trợ từ Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) và Hiệp hội Thương mại Điện tử Việt Nam (VECOM).

Triển lãm VIPILEC 2019 lần thứ nhất – Lối đi mới của ngành logistics tại Việt Nam

Triển lãm VIPILEC 2019 lần thứ nhất – Lối đi mới của ngành logistics tại Việt Nam Trong hơn ba thập kỷ qua, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng là nhờ sự đóng góp không nhỏ của việc mở cửa thị trường thương mại và đầu tư quốc tế. Hiện nay, Việt Nam là một trong những nền kinh tế mở nhất thế giới: Theo IMF (Quỹ Tiền tệ quốc tế), chỉ trong 15 năm qua, tỷ trọng thương mại thế giới đã tăng gấp đôi, với xuất nhập khẩu hiện nay khoảng 160% – 170% GDP. Việt Nam có thuận lợi về vị trí địa lý, ổn định chính trị, xã hội và đặt biệt là sự nhất quán của pháp luật về thương mại, tất cả trở thành một cơ sở tự nhiên, là nơi đang tin cậy cho các nhà sản xuất cung cấp cho chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thêm vào đó, ngành logistics là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đang được Chính phủ Việt Nam ưu tiên phát triển. Nhằm đẩy mạnh phát triển, thu hẹp khoảng cách nội bộ và tăng cường khả năng cạnh tranh trong khu vực, Chính phủ đã có nhiều quy hoạch xây dựng và đưa vào vận hành các trung tâm logistics, các khu công nghiệp logistics, cụm logistics; nâng cấp đáng kể hệ thống hạ tầng giao thông, trong đó việc xây dựng cảng nước sâu ở TP. HCM gần đây đã cải thiện dòng chảy thương mại và giảm chi phí vận chuyển.

Phiên bản đầu tiên của VIPILEC 2019 dự kiến sẽ diễn ra từ ngày 12 – 14/6/2019 tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC), quận 7, TP. HCM. Với diện tích trưng bày lên đến 3000m2, VIPILEC 2019 sẽ mang đến hơn 100 đơn vị triển lãm đến từ 15 quốc gia và vùng lãnh thổ – là cơ hội để các doanh nghiệp tham dự trưng bày những cơ hội kinh doanh và khách hàng giàu tiềm năng, tiếp cận các đơn vị triển lãm quốc tế và sản phẩm công nghệ tân tiến hàng đầu của ngành logistics, với danh mục sản phẩm đa dạng gồm: 3PLs và Đơn vị giao nhận vận tải, vận tải hàng không, vận chuyển hàng hóa bằng thùng lạnh, thiết bị xếp dỡ hàng hóa, chuỗi lưu trữ lạnh và Đơn vị sản xuất thùng lạnh, đơn vị sản xuất & cho thuê container, hệ thống phân tích dữ liệu, đơn vị cung cấp thiết bị và vận hành đường thủy nội địa, thiết bị & bất động sản Logistics, thiết bị & Công nghệ cảng, Intralogistics thông minh, Logistics thông minh và nhà kho thông minh và nhiều sản phẩm khác.

Theo Vietnam Logistics Review.

Cái Mép bất ngờ giành vị trí á quân về khai thác cảng tại châu Á

Cảng quốc tế Cái Mép giành vị trí á quân trong đánh giá thành tích khai thác năm 2018 giữa các cảng lớn khu vực châu Á.

CMIT vượt qua 3/4 tiêu chí đánh giá của CMA CGM và giành vị trí á quân trong cuộc đánh giá thành tích khai thác cảng giữa các cảng lớn khu vực châu Á

CMIT vượt qua 3/4 tiêu chí đánh giá của CMA CGM và giành vị trí á quân trong cuộc đánh giá thành tích khai thác cảng giữa các cảng lớn khu vực châu Á

Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) cho biết, hãng tàu CMA CGM của Pháp, một trong những hãng tàu lớn nhất thế giới vừa công bố bảng đánh giá thành tích khai thác năm 2018 của 22 cảng và bến cảng chính trong khu vực châu Á mà hãng tàu này đưa tàu mẹ vào khai thác như: cảng Yokohama (Nhật bản), Pusan (Hàn Quốc), Kaohsiung (Trung Quốc), Shanghai (Trung Quốc), Hongkong, Manila (Philipines), Laem Chabang (Thái Lan), Singapore,… Danh sách này không bao gồm các cảng nhỏ tiếp nhận tàu nội Á và tàu gom hàng feeder.

Bảng đánh giá thành tích bao gồm 4 tiêu chí với 5 mức độ đánh giá, thấp nhất là mức 1 và cao nhất là mức 5. Các tiêu chí bao gồm: năng suất bến, thời gian chờ hoa tiêu, thời gian chờ cầu bến và thời gian tàu neo chờ tại cảng trước và sau khi làm hàng.

Đại diện Vinalines cho biết, tại đánh giá này, CMIT đạt được các đánh giá cao ở phần lớn các tiêu chí và giành được huy chương Bạc chung cuộc. Trong 4 tiêu chí đánh giá, CMIT có 3 tiêu chí kết quả ngang với cảng Xiamen là cảng đạt huy chương Vàng, duy chỉ có tiêu chí về thời gian tàu neo chờ tại cảng trước và sau khi làm hàng đạt không cao. Đây là tiêu chí phản ánh việc tàu đến cảng có được làm hàng ngay sau khi neo buộc và có rời cảng ngay sau khi làm hàng xong hay không.

“Hạn chế của Cái Mép là tàu ra vào vẫn còn phụ thuộc vào thuỷ triều, do vậy, dù cảng có nỗ lực kết thúc xếp dỡ hàng hoá sớm thì tàu vẫn phải chờ thuỷ triều để rời bến. Nếu luồng vào cảng vẫn không được sớm nạo vét sâu hơn đến -15,5m, các cảng khó cải thiện được tiêu chí này”, đại diện này chia sẻ.

Cảng quốc tế Cái Mép (CMIT) là liên doanh giữa Tổng công ty Hàng hải VN, Cảng Sài Gòn và APM Terminals – Đan Mạch. Trong vài năm gần đây, CMIT liên tục nằm trong top các cảng tăng trưởng nhanh nhất thế giới (trung bình khoảng gần 30%/năm – theo đánh giá của Alphaliner). Hàng tuần, CMIT đón 13 tuyến tàu mẹ đi thẳng bờ Đông và bờ Tây nước Mỹ, 2 tuyến tàu mẹ đi thẳng châu Âu và 5 tuyến tàu nội Á. Trung bình mỗi ngày có 2 tàu mẹ cập các bến ở Cái Mép để kết nối hàng hoá XNK Việt Nam với hai bờ nước Mỹ và 2 chuyến/tuần đi châu Âu.

Theo baogiaothong.vn

Miễn giảm giá lưu giữ, giải phóng hàng ngàn container tồn đọng tại cảng

Cục Hàng hải yêu cầu các đơn vị đề xuất phương án miễn, giảm giá lưu container, tạo điều kiện cho chủ hàng giải phóng hàng tồn đọng tại cảng.

Cục Hàng hải Việt Nam yêu cầu DN chủ hàng phối hợp với cơ quan liên quan phân loại hàng hóa tồn đọng, đề xuất phương án miễn giảm giá dịch vụ lưu container, lưu bãi hợp lý

Cục Hàng hải Việt Nam yêu cầu DN chủ hàng phối hợp với cơ quan liên quan phân loại hàng hóa tồn đọng, đề xuất phương án miễn giảm giá dịch vụ lưu container, lưu bãi hợp lý

Cục Hàng hải Việt Nam vừa có văn bản gửi các hiệp hội, doanh nghiệp (DN) cảng biển và các hãng tàu về việc miễn, giảm giá dịch vụ lưu container, lưu bãi cho các DN chủ hàng.

Văn bản số 646 do ông Nguyễn Xuân Sang, Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam ký cho biết, tính đến ngày 25/01/2019, hệ thống cảng biển trên toàn quốc đang lưu giữ hơn 24.100 container phế liệu. Trong đó, tại cảng Hải Phòng có gần 7.000 container phế liệu.

“Trường hợp container lưu giữ tại cảng dưới 90 ngày, các DN vẫn đang thực hiện thủ tục hải quan để thông quan theo quy định. Tuy vậy, vẫn còn hơn 3.000 container quá hạn lưu giữ 90 ngày tại cảng, cơ quan chức năng đang phải tích cực tìm chủ hàng đến nhận để trả lại không gian cho cảng biển, hạn chế tình trạng hư hỏng của hàng hóa”, Cục Hàng hải cho biết.

Trước thực trạng trên, Cục Hàng hải Việt Nam đề nghị các DN chủ hàng, hiệp hội ngành hàng (hiệp hội giấy, hiệp hội nhựa, hiệp hội thép,…) chủ động phối hợp với các hãng tàu, đại lý hãng tàu, DN cảng biển khẩn trương thực hiện rà soát, thống kê, phân loại hàng hóa container phế liệu hiện đang tồn đọng tại cảng biển thuộc diện miễn, giảm phí lưu container, lưu bãi, gồm: tên hàng, số container, số seal, số vận đơn/ngày vận đơn, tên phương tiện vận tải/ngày nhập cảnh, vị trí, địa điểm lưu giữ hàng hóa, thời gian lưu bãi.

Trên cơ sở đó, các đơn vị liên quan hoàn thiện hồ sơ để làm thủ tục nhập khẩu, báo cáo đề xuất miễn giảm giá dịch vụ lưu container, lưu bãi cho các DN chủ hàng đối với từng lô hàng phù hợp với điều kiện thực tế và quy định pháp luật hiện hành.

“Các hiệp hội ngành hàng cũng cần thực hiện tuyên truyền, phổ biến đến các hội viên về chủ trương miễn, giảm giá lưu container, lưu bãi cho các DN chủ hàng nhập khẩu và phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng để xây dựng phương án miễn, giảm giá dịch vụ hợp lý, tránh thiệt hại cho các bên liên quan ở mức tối đa”, Cục Hàng hải Việt Nam đề nghị.

Theo baogiaothong.vn

Nhập siêu 900 triệu USD trong tháng 02/2019

Tính riêng tháng 02/2019, ước tính nhập siêu 900 triệu USD. Lũy kế hai tháng đầu năm, cả nước nhập siêu 84 triệu USD.

Tính riêng tháng 2/2019, ước tính nhập siêu 900 triệu USD

Tính riêng tháng 2/2019, ước tính nhập siêu 900 triệu USD

Báo cáo của Tổng cục Thống kê cho biết, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 02/2019 ước tính đạt 14,60 tỷ USD, giảm 33,9% so với tháng trước do tháng 2 có 9 ngày nghỉ Tết Nguyên đán.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2019, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 36,68 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 10,72 tỷ USD, tăng 9,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 25,96 tỷ USD (chiếm 70,8% tổng kim ngạch xuất khẩu), tăng 4,3%.

Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực trong 2 tháng đầu năm như điện thoại và linh kiện đạt 6,8 tỷ USD, giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước; hàng dệt may đạt 4,9 tỷ USD, tăng 19%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 4,2 tỷ USD, tăng 1,9%; giày dép đạt 2,7 tỷ USD, tăng 18,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 2,6 tỷ USD, tăng 19,3%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 1,4 tỷ USD, tăng 7,6%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,4 tỷ USD, tăng 12,7%.

Một số mặt hàng nông sản, thủy sản tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước: Thủy sản đạt 1,1 tỷ USD, tăng 2,3%; rau quả đạt 555 triệu USD, giảm 14,4%; cà phê đạt 500 triệu USD, giảm 26,9% (lượng giảm 19,6%); hạt điều đạt 371 triệu USD, giảm 21% (lượng giảm 2,3%); gạo đạt 335 triệu USD, giảm 17,5% (lượng giảm 4,9%); cao su đạt 278 triệu USD, tăng 1,3% (lượng tăng 16,6%); hạt tiêu đạt 92 triệu USD, giảm 20,6% (lượng tăng 7,8%).

Trong 2 tháng đầu năm, Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 8,1 tỷ USD, tăng 34,4% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là thị trường EU đạt 6,3 tỷ USD. Trung Quốc đạt 5,1 tỷ USD, giảm 9,3%. Thị trường ASEAN đạt 3,8 tỷ USD, tăng 3,5%. Nhật Bản và Hàn Quốc lần lượt đạt mức xuất khẩu 3,2 tỷ USD và 3,1 tỷ USD.

Chiều ngược lại, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 2 ước tính đạt 15,5 tỷ USD, giảm 27,1% so với tháng trước. Tính chung 2 tháng, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 36,76 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước.

Một số mặt hàng có giá trị kim ngạch nhập khẩu lớn trong 2 thánglà điện tử, máy tính và linh kiện đạt 7,5 tỷ USD, tăng 11,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 5,6 tỷ USD, tăng 14,6%; điện thoại và linh kiện đạt 2,1 tỷ USD, giảm 12,6%; vải đạt 2,1 tỷ USD, tăng 16%; sắt thép đạt 1,4 tỷ USD, giảm 1,2%; chất dẻo đạt 1,3 tỷ USD, giảm 2,6%; ô tô đạt 1 tỷ USD, tăng 105,1%; riêng dầu thô đạt 693 triệu USD, gấp 16,6 lần cùng kỳ năm trước.

Trong 2 tháng đầu năm, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 10,7 tỷ USD. Thị trường nhập khẩu thứ 2 của Việt Nam là Hàn Quốc với kim ngạch nhập khẩu đạt 7,4 tỷ USD, giảm 2,1%. Thị trường ASEAN đạt 4,7 tỷ USD, tăng 1,4%. Nhập khẩu từ Nhật Bản giảm 6,7% đạt 2,6 tỷ USD. Hoa Kỳ đạt 1,9 tỷ USD, tăng 14,6%, chủ yếu là thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu tăng; điện tử, máy tính và linh kiện.

Tính riêng tháng 2/2019, Việt Nam ước tính nhập siêu 900 triệu USD. Lũy kế hai tháng đầu năm, cả nước nhập siêu 84 triệu USD.

Theo Nhịp sống kinh tế.

Cảng nước sâu Việt Nam đón sóng CPTPP

Hãng tàu container lớn thứ 4 thế giới có kế hoạch thực hiện các chuyến tàu trực tiếp từ TP. HCM sang Úc trong năm 2019.

Doanh nghiệp của chị Ý Nhi (TP. HCM) mỗi tháng phải xuất 2 lô hàng hạt tiêu đi Australia. Container hạt tiêu của doanh nghiệp này được chuyển qua cảng Singapore hoặc Malaysia, sau đó chờ tàu nối sang Australia.

“Tôi phải theo dõi các chuyến tàu này rất sát sao, chỉ thở phào khi tàu đã cặp bến”, chị Ý Nhi chia sẻ. Chị cho biết không yên tâm là tâm trạng chung của các chủ hàng khi xuất khẩu hàng hóa đi Úc bằng đường biển, do không có tuyến vận chuyển đi thẳng từ TP. HCM.

Tàu của hãng CMA CGM đi tuyến châu Âu cập cảng CMIT làm hàng

Tàu của hãng CMA CGM đi tuyến châu Âu cập cảng CMIT làm hàng

Bên cạnh đó, nguồn cung thị trường cũng hạn chế dẫn đến mức cước cao và dễ biến động bất ngờ. Điều này dẫn đến thời gian vận chuyển kéo dài, container phải xếp dỡ nhiều lần, doanh nghiệp không chủ động về cước vận chuyển.

Tuy nhiên, năm 2019, tình trạng này chắc chắn sẽ được cải thiện.

Lợi ích từ CPTPP: Cảng nước sâu được lợi

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và các văn kiện có liên quan có hiệu lực chính thức với Việt Nam từ ngày 14/1/2019.

Như thường lệ, các Hiệp định FTA thường có xu hướng làm tăng xuất khẩu sang các nước ký kết Hiệp định. Theo một tính toán được công bố bởi Ngân hàng Thế giới cho trường hợp CPTPP thì tính đến năm 2030, lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng 13,1 tỷ USD so với kịch bản cơ sở, một con số không nhỏ, gần bằng giá trị xuất khẩu của mặt hàng giày dép trong năm 2018 của Việt Nam (16,3 tỷ USD).

Lượng hàng xuất khẩu tăng đồng nghĩa với khả năng các tuyến hàng hải trực tiếp đến các thị trường xuất khẩu mục tiêu được hiện thực hóa. Đây là điều không phải do doanh nghiệp xuất khẩu hàng quyết định, mà chính là các hãng tàu.

Đối với các thị trường xuất khẩu tuyến trung bình và tuyến xa, trước năm 2009, các hãng vẫn sử dụng các cảng trung chuyển lớn trong khu vực như Hong Kong, Singapore, Klang (Malaysia),.. để trung chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam. Các hãng tàu phải khai thác như vậy bởi trước đó, Việt Nam không có cảng container nước sâu nào.

Nhưng kể từ tháng 6/2009, khi cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải (Bà Rịa – Vũng Tàu) đi vào hoạt động, đã có những tuyến hàng hải trực tiếp kết nối Việt Nam đến các nước châu Âu và Bắc Mỹ. Những tuyến dịch vụ được các hãng tàu lớn nhất thế giới như Maersk, CMA-CGM, MSC, NYK, COSCO, Evergreen.. triển khai với cỡ tàu từ 8.000 TEU lên đến 18.000 TEU, cỡ tàu rất lớn mà không nhiều cảng trên thế giới có thể tiếp nhận.

Cảng container quốc tế Hải Phòng (HICT) ở Lạch Huyện cũng sẽ đón tuyến dịch vụ đi Bắc Mỹ trong năm 2019 này, đánh dấu cột mốc lần đầu tiên có tuyến dịch vụ kết nối trực tiếp từ các cảng miền Bắc Việt Nam đến thị trường Mỹ.

Nhưng không dừng lại ở các tuyến biển xa, sự ra đời của các cảng nước sâu kết hợp với tiến trình ký kết các FTA của Việt Nam trong thời gian qua cũng đã giúp cho các hãng tàu đưa các tuyến trung bình đến Việt Nam, điển hình là các tuyến dịch vụ kết nối Ấn Độ hay châu Phi với Việt Nam.

Các tuyến này có thể không sử dụng tàu mẹ, nhưng những con tàu 4.000 TEU – 5.000 TEU không thể vào các cảng ở TP. HCM hay Hải Phòng trước đây, nay đã có thể ghé trực tiếp vào Cái Mép – Thị Vải, Lạch Huyện hay Cái Lân.

Các hãng tàu như Hapag-Lloyd, Hyundai, ZIM, Yang Ming.. đều đã đưa các tuyến dịch vụ kết nối Việt Nam – Ấn Độ vào các cảng nước sâu ở Việt Nam. Hay một số hãng mạnh trên thị trường châu Phi như Maersk, ZIM, MOL đã từng đưa tàu trực tiếp từ các nước châu Phi về cảng TCIT và TCTT ở Cái Mép – Thị Vải để dỡ lượng hàng hạt điều thô nhập về Việt Nam.

Cơ hội cho Cái Mép – Thị Vải

Năm 2019 sẽ đánh dấu một cột mốc quan trọng mới đối với hệ thống cảng biển Việt Nam. Nhằm đón đầu lượng hàng tăng trưởng từ CPTPP, các hãng tàu sẽ triển khai tuyến dịch vụ đầu tiên kết nối trực tiếp Việt Nam và Australia, 2 thành viên trong CPTPP với kim ngạch hai chiều trong 10 tháng năm 2018 đạt gần 6,4 tỷ USD.

Việt Nam xuất khẩu nhiều mặt hàng chủ lực sang Australia như điện thoại và linh kiện, giày dép, hàng dệt may, thủy sản, gỗ.. Đồng thời, nhập về các mặt hàng cần thiết như bông, lúa mì, than, sắt phế liệu… Với CPTPP, thương mại giữa hai nước sẽ tăng đáng kể và rõ ràng những tuyến hàng hải trực tiếp giữa hai nước là hoàn toàn khả thi.

Hãng tàu Pháp CMA-CGM, hiện là hãng tàu container lớn thứ tư trên thế giới sẽ là hãng tiên phong thực hiện tuyến dịch vụ này trong năm 2019 thông qua 2 hãng trực thuộc là APL và ANL. Theo công ty tư vấn hàng hải Alphaliner, tuyến dịch vụ này (có tên là AAX2) sẽ bao gồm 5 tàu với hải trình đi từ cảng TP HCM qua các cảng ở Đông Nam Á là Klang, Singapore và Jakarta, sau đó sẽ cập ba cảng lớn tại Australia là Brisbane, Sydney và Townsville rồi quay lại TP. HCM.

Tuy nhiên khả năng cao là các cảng ở TP. HCM sẽ không được lựa chọn để triển khai tuyến dịch vụ này do vấn đề cỡ tàu. Trong số 20 tuyến dịch vụ từ châu Á đi châu Đại Dương hiện nay, cỡ tàu phổ biến nhất được các hãng sử dụng là cỡ tàu trên 4.200 TEU, chỉ có ba tuyến dùng tàu dưới 4.000 TEU, là cỡ tàu ghé ít cảng hoặc dùng để khai thác tại các cảng ở New Zealand, thị trường có lượng hàng hóa ít hơn so với Australia. Với đặc tính khai thác của tuyến đi Australia, APL/ANL nhiều khả năng sẽ sử dụng cỡ tàu đến hơn 5.000 TEU và như vậy tuyến dịch vụ này chắc chắn sẽ phải cập một trong các bến cảng tại Cái Mép – Thị Vải.

CMA-CGM là hãng triển khai đầu tiên, và nếu hãng này triển khai thành công, những hãng khác cũng khá mạnh trên thị trường Australia và New Zealand như Maersk, COSCO, Ocean Network Express.. chắc chắn sẽ không ngồi yên.

Chỉ mới có hiệu lực chưa lâu, nhưng CPTPP sẽ sớm giúp ngành các cảng nước sâu Việt Nam có được những lợi ích nhất định.

Theo Người đồng hành