Thaco xuất khẩu hơn 200 ô tô và linh kiện phụ tùng

Ngay trong ngày ra quân đầu năm Tân Sửu, 17/2/2021, THACO đã xuất khẩu hơn 200 ô tô và linh kiện phụ tùng sang các thị trường Thái Lan, Myanmar, Nhật Bản và Hàn Quốc. Đây là lô hàng có số lượng lớn nhất từ trước đến nay, gồm xe du lịch Kia, xe bus và sơmi rơmoóc được sản xuất tại các nhà máy thuộc KCN THACO Chu LaiContainer ô tô và linh kiện được đưa lên tàu tại cảng Chu Lai

Container ô tô và linh kiện được đưa lên tàu tại cảng Chu Lai

Trong đó, 80 xe Kia Grand Carnival xuất sang Thái Lan lần này là lô hàng thứ 7 được THACO xuất cho đối tác Yontrakit kể từ tháng 12/2019. 120 xe Kia Soluto xuất khẩu sang Myanmar là lô xethứ 6 THACO xuất sang thị trường này. Xe du lịch Kia do THACO sản xuất ngày càng được khách hàng tại các nước khu vực ASEAN đánh giá cao bởi chất lượng tương đương với xe sản xuất tại Hàn Quốc, đạt tiêu chuẩn Kia toàn cầu và giá cạnh tranh. Kế hoạch năm 2021, THACO sẽ xuất khẩu 1.480 xe sang Thái Lan, Myanmar và mở rộng sang các thị trường khác, từng bước thực hiện mục tiêu trở thành trung tâm sản xuất, xuất khẩu ô tô và linh kiện phụ tùng của Kia Motors tại khu vực ASEAN.

Đối với sơmi rơmoóc, đây là lô hàng lần đầu tiên xuất sang Nhật Bản, vốn là thị trường có yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng. Đối tác nhập khẩu là Nippon Trex – nhà sản xuất và xuất khẩu sơmi rơmoóc hàng đầu tại Nhật. Sau nhiều cuộc khảo sát, thảo luận kỹ thuật về dự án phát triển sản phẩm sơmi rơmoóc tại thị trường Nhật Bản, đánh giá cao năng lực của THACO, Nippon Trex đã hợp tác với THACO sản xuất và xuất khẩu sơmi rơmoóc để cung cấp cho thị trường này.

Cũng trong đợt này, xe bus của THACO được xuất khẩu sang Thái Lan cho công ty VOLVO Buses – nhà sản xuất xe bus lớn nhất thế giới thuộc VOLVO Group. Đáp ứng yêu cầu của VOLVO về công nghệ, chất lượng, độ an toàn và giá cạnh tranh; đạt tỷ lệ nội địa hóa trên 60% và đạt các tiêu chuẩn, chứng nhận tại Thái Lan (về thiết kế, về kích thước, các chứng nhận ECE…), xe bus THACO thương hiệu Việt Nam đã được VOLVO Buses lựa chọn nhập khẩu và phân phối. Lô hàng lần này sẽ mở đầu cho kế hoạch xuất khẩu 66 xe bus sang Thái Lan và Hàn Quốc trong năm nay.Xe bus được đưa lên tàu tại cảng Chu Lai chuẩn bị xuất khẩu sang Thái Lan

Xe bus được đưa lên tàu tại cảng Chu Lai chuẩn bị xuất khẩu sang Thái Lan

Bên cạnh ô tô và sô mi rơmoóc, hàng loạt linh kiện phụ tùng cũng được xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc, gồm: áo ghế xe Hyundai Santafe, bọc cần số, két giàn nóng máy lạnh, linh kiện xe chuyên dụng với giá trị xuất khẩu 200.000 USD.

Trong bối cảnh thuế nhập khẩu xe ô tô nguyên chiếc trong nội khối ASEAN giảm về 0% từ đầu 2018 đến nay, nhiều doanh nghiệp lắp ráp ô tô tại Việt Nam đã chuyển sang nhập khẩu, phân phối thì THACO tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, thực hiện chiến lược xuất khẩu sang khu vực. Trong năm 2021, THACO tiếp tục đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sang các thị trường hiện hữu như Thái Lan, Myanmar, Philippine, Mỹ, Nhật và mở rộng sang các nước trong khu vực ASEAN. Doanh số xuất khẩu 2.500 xe (bao gồm: gần 1.800 xe du lịch, hơn 70 xe Tải & Bus, hơn 630 Sơmi rơmoóc). Doanh thu xuất khẩu linh kiện phụ tùng và cơ khí là 30 triệu USD (trong đó linh kiện phụ tùng 18 triệu USD và cơ khílà 12 triệu USD).

Liên tục những lô hàng xuất khẩu trong năm 2020 và lô hàng lớn đầu năm 2021 cho thấy ô tô sản xuất tại Việt Nam có thể cạnh tranh ở thị trường nước ngoài, từng bước định danh trên bản đồ xuất khẩu của thế giới. Thời gian tới, THACO tiếp tục gia tăng sản lượng xuất khẩu sang khu vực ASEAN và thâm nhập vào các thị trường mới tại Châu Phi, Tây Á, Nam Á, Australia…

Theo Vietnam Logistics Review.

Khai trương Trung tâm Logistics tự động ‘Make in Vietnam’ giúp tiết kiệm 91% nhân lực

Ứng dụng công nghệ hiện đại, tự chủ thiết kế để phù hợp với thị trường Việt Nam, Trung tâm Logistics miền Nam của ViettelPost giúp giảm thời gian toàn trình kết nối bưu phẩm đến 6 giờ, đồng thời hỗ trợ tiết kiệm 91% nhân lực.

Vụ trưởng Vụ Bưu chính Nguyễn Vũ Hồng Thanh, Phó Cục trưởng Cục Tin học hóa Nguyễn Trọng Đường và các đại biểu thực hiện nghi thức khai trương Trung tâm Logistics miền Nam của Viettel Post

Vụ trưởng Vụ Bưu chính Nguyễn Vũ Hồng Thanh, Phó Cục trưởng Cục Tin học hóa Nguyễn Trọng Đường và các đại biểu thực hiện nghi thức khai trương Trung tâm Logistics miền Nam của Viettel Post

Ngày 24/01, Tổng Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel (Viettel Post) khai trương Trung tâm Logistics miền Nam tại quận 12, TP. HCM.

Được ứng dụng nhiều công nghệ hiện đại trong vận hành và giám sát, Trung tâm Logistics miền Nam của Viettel Post gồm hai bộ phận chính là trung tâm chia chọn và trung tâm Fulfillment (trung tâm hoàn tất đơn hàng).

Trong trung tâm Fulfillment, Viettel Post cung cấp đầy đủ các dịch vụ gồm: nhập hàng vào kho, lưu kho, xử lý đơn hàng, dán nhãn, xuất hàng, chia chọn, vận chuyển bằng việc ứng dụng công nghệ robot AGV vận chuyển hàng hóa và lưu trữ tự động, sắp xếp hàng hóa và điều phối đơn một cách ngẫu nhiên dựa theo tối ưu đường đi.

“Dịch vụ hoàn tất đơn hàng sẽ cung cấp giải pháp toàn diện cho khách hàng, đặc biệt là khách hàng kinh doanh thương mại điện tử. Khách hàng chỉ cần tập trung vào bán hàng, toàn bộ các khâu hậu cần sẽ được Viettel Post thực hiện một cách tự động để đưa hàng đến tay khách hàng một cách nhanh nhất”, đại diện Viettel Post chia sẻ.Hệ thống băng chuyền chia chọn tự động tại Trung tâm Logistics miền Nam do Viettel Post làm chủ thiết kế và công nghệ

Hệ thống băng chuyền chia chọn tự động tại Trung tâm Logistics miền Nam do Viettel Post làm chủ thiết kế và công nghệ

Tại trung tâm chia chọn mới được ra mắt, hệ thống băng chuyền chia chọn tự động có công suất 42.000 bưu phẩm/giờ, với 360 cổng chia hàng nhỏ và 41 cổng chia hàng nặng. Đặc biệt, tính đến thời điểm hiện tại, đây là hệ thống duy nhất tại Việt Nam tích hợp được chia tự động hàng nặng đến 50kg và hàng nhỏ trên cùng một kịch bản chia, do Viettel Post làm chủ sáng kiến và công nghệ.

Băng chuyền chia chọn tự động này sẽ giúp Viettel Post thay đổi hoàn toàn cách làm cũ, khi cho phép chia chọn tự động chính xác đến từng quận, huyện. Hàng hóa sau khi được chia chọn qua Trung tâm Logistics miền Nam sẽ được kết nối đến khách hàng mà không cần thực hiện chia chọn lần hai như trước đây.Tại trung tâm chia chọn mới được ra mắt, hệ thống băng chuyền chia chọn tự động có công suất 42.000 bưu phẩm/giờ, với 360 cổng chia hàng nhỏ và 41 cổng chia hàng nặng. Đặc biệt, tính đến thời điểm hiện tại, đây là hệ thống duy nhất tại Việt Nam tích hợp được chia tự động hàng nặng đến 50kg và hàng nhỏ trên cùng một kịch bản chia, do Viettel Post làm chủ sáng kiến và công nghệ.

Bên cạnh đó, việc kiểm soát an ninh và giám sát tại Trung tâm Logistics miền Nam cũng được ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) để giám sát luồng vận hành “Một vào – Một ra” duy nhất, nhận diện người vào, xe vào; tự động cảnh báo khói, cháy nổ trong kho…

Ứng dụng công nghệ hiện đại, tự chủ thiết kế để phù hợp với thị trường Việt Nam, đại diện Viettel Post khẳng định: Trung tâm Logistics miền Nam là một hạ tầng logistics hoàn chỉnh giúp lưu thông dòng chảy hàng hóa đạt cả 2 yếu tố là tốc độ và chính xác, giảm thời gian toàn trình kết nối bưu phẩm đến 6 giờ, tỷ lệ sai sót trong chia chọn gần như bằng không, tối ưu 91% nhân lực và cung cấp giải pháp hoàn tất đơn hàng tự động cho khách hàng.

Theo Tổng Giám đốc Viettel Post Trần Trung Hưng, sự kiện khai trương Trung tâm Logistics miền Nam đánh dấu bước phát triển mới của Tổng công ty trong lộ trình dịch chuyển từ doanh nghiệp bưu chính chuyển phát sang doanh nghiệp Logistics, hướng tới mục tiêu trở thành doanh nghiệp Logistics số 1 Việt Nam dựa trên nền tảng công nghệ cao vào năm 2025.

“Tại Việt Nam, hiện doanh nghiệp logistics nước ngoài đang kiểm soát đến 80% dòng chảy hàng hóa. Nếu chúng ta không thay đổi, vươn mình, làm chủ về công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế, một ngày nào đó các doanh nghiệp Việt Nam sẽ “biến mất” trên chính đất nước mình. Việc Viettel Post khai trương Trung tâm Logistics miền Nam không chỉ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty mà còn góp phần xây dựng hạ tầng Logistics quốc gia, là nền tảng để phát triển kinh tế số đất nước”, ông Hưng nhấn mạnh.

Trong định hướng phát triển ngành TT&TT năm 2021, với lĩnh vực Bưu chính, Bộ TT&TT đã xác định mục tiêu chuyển dịch từ dịch vụ bưu chính truyền thống sang dịch vụ bưu chính số, đảm bảo dòng chảy vật chất bên cạnh dòng chảy dữ liệu. Bưu chính chuyển phát trở thành hạ tầng quan trọng của nền kinh tế số, của thương mại điện tử, góp phần thúc đẩy Chính phủ số, xã hội số.

Theo Ictnews

Đến 2030 không còn giao dịch sử dụng tiền mặt trong hoạt động GTVT

Bộ GTVT vừa phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số Bộ GTVT đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Chương trình được triển khai trong 2 giai đoạn đến 2025 và đến 2030.Tạo ra các nền tảng số kết nối dịch vụ vận tải đa phương thức, xây dựng chuỗi cung ứng logistics được làm chủ bởi doanh nghiệp của Việt Nam…

Tạo ra các nền tảng số kết nối dịch vụ vận tải đa phương thức, xây dựng chuỗi cung ứng logistics được làm chủ bởi doanh nghiệp của Việt Nam…

Theo đó, đến 2025, với mục tiêu phát triển chính phủ số, sẽ hình thành được cơ sở hạ tầng dữ liệu của ngành GTVT, trong đó có cơ sở dữ liệu nền tảng dùng chung được kết nối, tích hợp dữ liệu từ các hệ thống nghiệp vụ chuyên dùng nhằm cung cấp thông tin phục vụ quản lý, điều hành GTVT tới được người ra quyết định đầy đủ, kịp thời và chính xác.

Cung cấp đầy đủ dữ liệu mở của ngành GTVT đối với các số liệu thống kê hàng năm và các loại thông tin phải được công khai theo quy định của pháp luật.

100% hồ sơ thủ tục hành chính giải quyết thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ GTVT được quản lý theo dõi tiến độ xử lý trên Cổng dịch vụ công và hệ thống một cửa điện tử. Tất cả các dịch vụ công phổ biến liên quan tới nhiều người dân và doanh nghiệp được thực hiện trực tuyến mức độ 3, 4 và được tích hợp lên Cổng dịch vụ công quốc gia; tối thiểu 50% số lượng bộ hồ sơ thực hiện tại Bộ GTVT được nộp trực tuyến mức độ 3, 4.

Tự động hóa được các công tác liên quan đến quản lý đăng ký, kiểm tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp, phương tiện và người điều khiển phương tiện tham gia kinh doanh vận tải nhờ các hệ thống thiết bị và phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin…

Hoàn chỉnh được quy trình quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc đào tạo, sát hạch và cấp phép cho người điều khiển phương tiện; tránh được các tệ nạn tham nhũng gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông…

Với mục tiêu phát triển kinh tế số đến 2025, 100% các tuyến đường bộ cao tốc có triển khai lắp đặt hệ thống quản lý, điều hành giao thông thông minh (ITS); hình thành được các trung tâm tích hợp quản lý, điều hành giao thông của đô thị thông minh tại các thành phố trực thuộc Trung ương và địa phương có nhu cầu.

Hệ thống thu phí điện tử không dừng (ETC) được triển khai đồng bộ tại tất cả các trạm thu phí trên toàn quốc, tiến tới xóa bỏ tất cả các làn thu phí sử dụng tiền mặt.

Tạo ra các nền tảng số kết nối dịch vụ vận tải đa phương thức, xây dựng chuỗi cung ứng logistics được làm chủ bởi doanh nghiệp của Việt Nam…

Giai đoạn đến năm 2030, với mục tiêu phát triển chính phủ số, hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng dữ liệu của ngành GTVT với các nguồn dữ liệu được cập nhật thường xuyên, đầy đủ và chính xác; tạo lập được cơ sở dữ liệu không gian về kết cấu hạ tầng giao thông có đủ tính pháp lý để khai thác sử dụng trong các hoạt động quản lý, điều hành và phát triển của ngành.

Người dân và doanh nghiệp có thể tìm kiếm và khai thác sử dụng hầu hết các loại dữ liệu không phải là mật của ngành GTVT trên cổng cung cấp dữ liệu mở…

Với mục tiêu phát triển kinh tế số, hệ thống giao thông thông minh được triển khai rộng khắp trên mạng lưới giao thông toàn quốc; có sự kết nối đồng bộ, liên thông kết cấu hạ tầng giao thông các lĩnh vực đường bộ, đường sắt, hàng hải, đường thủy nội địa và hàng không.

Xóa bỏ hoàn toàn các giao dịch sử dụng tiền mặt trong hoạt động GTVT; 100% phương tiện ô tô sử dụng tài khoản thu phí điện tử để thanh toán đa mục đích cho các dịch vụ giao thông đường bộ…

Theo: logistics.gov.vn

Cảng Quốc tế Tân Cảng – Cái Mép đón TEU thứ 2 triệu trong năm 2020

Ngày 17/12, Cảng Quốc tế Tân Cảng – Cái Mép (gọi tắt là TCIT) đã đón TEU thứ 2 triệu thông qua trong năm 2020. Đây là một sự kiện mang dấu mốc lịch sử trong hành trình 10 năm đi vào hoạt động của cảng TCIT nói riêng và của ngành cảng biển Việt Nam nói chung. Cảng Quốc tế Tân Cảng - Cái Mép chào đón TEU thứ 2 triệu thông qua trong năm 2020

Cảng Quốc tế Tân Cảng – Cái Mép chào đón TEU thứ 2 triệu thông qua trong năm 2020

Tính đến thời điểm này, TCIT là cảng nước sâu đầu tiên tại Việt Nam và là cảng container thứ 2 tại Việt Nam – sau Cảng Tân Cảng – Cát Lái tại TP. HCM đạt mốc sản lượng này. Cột mốc tiếp nhận hơn 2 triệu TEUs trong năm 2020 của cảng TCIT, tăng 6,2 lần so với năm đầu tiên đi vào hoạt động năm 2011, đã khẳng định sự phát triển bền vững của cảng TCIT nói riêng, cũng như tiềm năng và sức hút của khu vực Cái Mép – Thị Vải thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói chung.

Cảng Quốc tế Tân Cảng – Cái Mép là đơn vị liên doanh giữa Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn với hãng tàu Mitsui O.S.K. Lines của Nhật Bản, Công ty Hanjin Transportation của Hàn Quốc và hãng tàu Wan Hai Lines của Đài Loan. Cảng được khởi công xây dựng ngày 04/9/2009 và đi vào hoạt động ngày 15/01/2011. Được sự tin tưởng hợp tác của các khách hàng và đối tác, cũng như sự quan tâm hỗ trợ từ phía các cơ quan ban ngành, cùng với sức mạnh kết nối hệ thống của Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn, trong các năm qua, TCIT đã không ngừng gặt hái được những kết quả kinh doanh ấn tượng như: Sản lượng thông qua tăng trưởng nhanh qua các năm, đạt trung bình khoảng 27%/ năm; Luôn giữ vững vị trí dẫn đầu trong khu vực cảng Cái Mép – Thị Vải với thị phần đạt gần 58%, là cảng có sản lượng thông qua đứng thứ 2 tại Việt Nam, chỉ sau cảng Tân Cảng – Cát Lái TP. HCM và là Cảng nước sâu trung chuyển lớn nhất Việt Nam.Dự kiến, sản lượng thông qua Cảng TCIT năm 2020 sẽ đạt trên 2,1 triệu TEUs, tăng 7% so với năm 2019

Dự kiến, sản lượng thông qua Cảng TCIT năm 2020 sẽ đạt trên 2,1 triệu TEUs, tăng 7% so với năm 2019

Năm 2020, trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ đại dịch COVID-19, chuỗi cung ứng bị gián đoạn nhưng bằng nhiều nỗ lực trong công tác phòng chống dịch và quyết tâm thực hiện “nhiệm vụ kép” theo chỉ đạo của Chính Phủ vừa phòng, chống dịch vừa phát triển kinh tế – xã hội, TCIT đã đạt được những thành quả hết sức ấn tượng như: Sản lượng thông qua Cảng năm 2020 dự kiến đạt trên 2,1 triệu TEUs, tăng 7% so với năm 2019, chiếm 48% tổng thị phần cảng container nước sâu khu vực Cái Mép – Thị Vải. Năng suất xếp dỡ tàu đạt 130 cont/ giờ, tăng 13% so với năm 2019, đạt kỷ lục xếp dỡ lên đến 207,4 container/giờ/tàu – khẳng định năng lực và vị thế Cảng TCIT nói riêng và ngành cảng biển Việt Nam nói chung. Bằng chất lượng dịch vụ hàng đầu cùng các chính sách hỗ trợ khách hàng linh hoạt, TCIT đã và đang phát triển vững mạnh về mọi mặt, nhận được sự ủng hộ to lớn của khách hàng cũng như cộng đồng.TCIT đã và đang phát triển vững mạnh về mọi mặt, nhận được sự ủng hộ to lớn của khách hàng cũng như cộng đồng

TCIT đã và đang phát triển vững mạnh về mọi mặt, nhận được sự ủng hộ to lớn của khách hàng cũng như cộng đồng

TCIT mong muốn gửi lời tri ân sâu sắc đến toàn thể các hãng tàu, khách hàng đã tin tưởng sử dụng dịch vụ của TCIT và các cơ quan ban ngành, Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn và các đối tác góp vốn đã luôn quan tâm, hỗ trợ tạo điều kiện. TCIT tiếp tục nỗ lực không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển các dịch vụ gia tăng, mở rộng quy mô và năng lực, đồng thời phối hợp cùng các cơ quan ban ngành đơn giản hóa thủ tục nhằm đáp ứng nhu cầu của Quý hãng tàu, khách hàng, góp phần xây dựng Cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải không chỉ là điểm đến tin cậy đối với hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam và trở thành Cảng trung chuyển của các nước trong khu vực.

Theo: Vietnam Logistic Review.

Duy trì tăng trưởng xuất nhập khẩu dương, xuất siêu kỷ lục

Thống kê của Bộ Công Thương cho thấy, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 11 tháng năm 2020 ước tính đạt 489,7 tỷ USD, tăng 3,59% so với cùng kỳ năm trước.

Xuất nhập khẩu tiếp tục đạt kết quả tốt

Trong bối cảnh tình hình dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, hoạt động thương mại và đầu tư thế giới suy giảm, các nước nhập khẩu ngày càng siết chặt hàng rào phi thuế quan, bảo hộ trong nước gia tăng… thì việc Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu dương và xuất siêu kỷ lục cho thấy hiệu quả trong chỉ đạo, điều hành và khai thác, tận dụng tốt các cơ hội mang lại nhằm thúc đẩy xuất khẩu.

Trong thành tích xuất nhập khẩu của 11 tháng qua, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 11/2020 ước tính đạt 25,14 tỷ USD, giảm 7,8% so với tháng trước, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 254,93 tỷ USD, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 8%). Trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 73,05 tỷ USD, tăng 1,6%, chiếm 28,65% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 181,88 tỷ USD, tăng 7,1%, chiếm 71,35%.

Có đến 31 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD sau 11 tháng, chiếm 92% tổng kim ngạch xuất khẩu (trong đó có 6 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 64,3%).

Tính về nhóm hàng xuất khẩu, trong tháng 11/2020, ngoại trừ nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản có kim ngạch giảm gần 50% so với cùng kỳ năm 2019, các nhóm hàng khác đều đạt mức tăng trưởng khả quan. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, lâm thủy sản ước đạt 2,22 tỷ USD, tăng 3,2% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, nhu cầu thế giới phục hồi cũng kéo theo giá xuất khẩu hầu hết các mặt hàng nông, thủy sản đều tăng so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm 2019. Theo đó, giá xuất khẩu bình quân cà phê đạt 1.963 USD/tấn trong tháng 11/2020, tăng 5,7% so với tháng 10/2020 và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm 2019; giá xuất khẩu hạt tiêu tăng 3,6% so với tháng 10/2020 và tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2019; nhân điều đạt 6.207 USD/tấn, tăng 3,5% so với tháng trước nhưng giảm 12,7% so với cùng kỳ năm 2019; giá xuất khẩu cao su tăng 8,8% so với tháng 10/2020 và tăng 15% so với cùng kỳ năm 2019… Tính chung 11 tháng năm 2020, kim ngạch nhóm hàng này ước đạt 22,67 tỷ USD, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm 2019.

Nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục đóng góp chính vào tốc độ tăng trưởng trong tháng 11/2020 với kim ngạch đạt 20,97 tỷ USD, tăng 8,2% so với tháng 11/2019. Trong 11 tháng năm 2020, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến tăng trưởng khá cao so với cùng kỳ năm 2019 và đóng góp chủ yếu vào tốc độ tăng trưởng chung với kim ngạch ước đạt 216,35 tỷ USD, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 11 tháng đầu năm, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 69,9 tỷ USD, tăng 25,7% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là Trung Quốc đạt 43,1 tỷ USD, tăng 16%. Thị trường EU đạt 32,2 tỷ USD, giảm 2,4%. Thị trường ASEAN đạt 20,9 tỷ USD, giảm 10,6%. Hàn Quốc đạt 17,7 tỷ USD, giảm 2,7%. Nhật Bản đạt 17,3 tỷ USD, giảm 6,5%.

Cùng với tình hình tương đối khả quan của xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong 11 tháng năm 2020 ước đạt 234,78 tỷ USD, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm 2019. Hàng hóa tập trung vào các nhóm hàng cần nhập khẩu với kim ngạch ước đạt 207,39 tỷ USD, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm 2019, chiếm 88,44% tổng kim ngạch nhập khẩu.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng 10/2020 xuất siêu 2,9 tỷ USD; 10 tháng xuất siêu 19,5 tỷ USD; tháng 11 ước tính xuất siêu 660 triệu USD. Tính chung 11 tháng năm 2020, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu kỷ lục 20,16 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 10,8 tỷ USD).

Khai thác tốt các FTA

Theo Bộ Công Thương, thời gian qua, hàng hóa Việt Nam đã tiếp tục khai thác các thị trường truyền thống và mở rộng tìm kiếm, phát triển thêm nhiều thị trường mới từ việc tận dụng các FTA đã có hiệu lực và đang tiếp tục đàm phán, ký kết. Nhất là khi cộng đồng doanh nghiệp tận dụng tốt hơn cơ hội từ các FTA sẽ là yếu tố tích cực thúc đẩy quá trình xuất khẩu hàng hóa. Đặc biệt, cùng với việc không ngừng cải cách thủ tục hành chính, tạo hành lang thông thoáng cho doanh nghiệp hoạt động đã và đang là động lực rất lớn trong việc phát triển các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước cũng như thu hút mở rộng đầu tư và xuất khẩu sản phẩm của các doanh nghiệp.

Ngày 15 tháng 11 năm 2020, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) mà Việt Nam là thành viên đã chính thức được ký kết, mang lại cơ hội lớn cho Việt Nam khi quy mô thị trường của các quốc gia tham gia hiệp định chiếm hơn 32% tổng GDP toàn cầu với hơn 2,2 tỷ dân và sẽ trở thành khu vực thương mại tự do lớn nhất trên thế giới.

Đánh giá về hiệu quả của Hiệp định RCEP với doanh nghiệp (DN), đặc biệt là khối DN nhỏ và vừa, ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội DN nhỏ và vừa Việt Nam cho biết, việc ký kết RCEP có ý rất lớn trong bối cảnh hiện nay, mở ra những cơ hội mới cho nền kinh tế cũng như DN trong một sân chơi kinh tế rộng lớn. Với các cam kết về mở cửa thị trường ở lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và hài hòa hóa quy tắc xuất xứ, tăng cường các biện pháp tạo thuận lợi thương mại RCEP sẽ tạo cơ hội để phát triển các chuỗi cung ứng toàn cầu mới, thiết lập thị trường xuất khẩu ổn định lâu dài cho hàng hoá Việt Nam.

Theo: Báo Công thương điện tử

Xuất khẩu gặp khó vì thiếu container rỗng trong mùa cao điểm

Việc thiếu container rỗng cho xuất khẩu kể từ đầu tháng 10 tới nay đang khiến kế hoạch kinh doanh của nhiều doanh nghiệp bị đảo lộn bởi đơn hàng thì nhiều nhưng không thể giao kịp cho đối tác.

Tình trạng thiếu container rỗng đang khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó

Tình trạng thiếu container rỗng đang khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó

Theo khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam, hiện có đến 40% doanh nghiệp cho biết gặp khó khăn trong việc giao nhận container rỗng tại các nơi tập kết container và khi chủ hàng đến nhận mới được thông báo báo là chưa có. 43% doanh nghiệp cho biết là do bộ phận đặt chỗ với hãng tàu cho thuê container rỗng vượt số lượng cho phép và 17% do bộ phận kinh doanh chưa tiếp cận thuê container rỗng được từ hãng tàu.

Công ty TNHH VRICE là một trong những doanh nghiệp đang gặp tình trạng này bởi từ đầu tháng 10/2020 tới nay không thể xuất khẩu hàng đúng hẹn cho đối tác. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Phan Văn Có – Giám đốc Marketing Công ty TNHH VRICE – cho biết: Các đơn hàng xuất khẩu gạo đến kỳ phải giao cho đối tác của chúng tôi đang phải nằm trong cảnh chờ đến lượt được hãng tàu thông báo tập kết mới được xuất đi. Điều này có thể do các hãng tàu giảm thời gian lấy container tại cảng xuất hàng và thời gian vận chuyển hàng giữa các cảng lâu hơn bình thường từ 7-20 ngày.

Theo ông Có, việc phải “nằm chờ” đang gây thiệt hại nặng cho doanh nghiệp bởi chi phí bị đội lên ước tính từ 5-10% giá trị lô hàng vì phải chờ ở cảng. Đó là chưa kể thời gian vận chuyển lâu hơn bình thường sẽ ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa.

Cùng chung cảnh ngộ, ông Nguyễn Đình Tùng – Chủ tịch HĐQT của Vina T&T Group cho biết, do lượng container rỗng về các cảng không nhiều nên Vina T&T cũng phải chờ đợi để đóng hàng xuất khẩu.

Liên quan đến thực trạng này, ông Đặng Phúc Nguyên – Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam lý giải: Những tháng đầu năm 2020 đơn hàng xuất khẩu các mặt hàng của Việt Nam chậm vì ảnh hưởng dịch bệnh và mới chỉ khởi sắc gần đây nên dẫn tới tăng nhiều hơn so với thời điểm giữa năm.

Ngoài ra, trong suốt 10 tháng đầu năm nay Việt Nam liên tục xuất siêu nhưng nhập khẩu lại giảm đã làm thay đổi cán cân xuất nhập khẩu, càng khiến tình trạng thiếu hụt trở nên trầm trọng hơn. Cụ thể, theo số liệu từ Bộ Công Thương, trong 10 tháng đầu năm 2020, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 440,09 tỷ USD, tăng 2,7% với cùng kỳ năm 2019. Trong đó, hàng hóa xuất khẩu đạt trị giá 229,79 tỷ USD, tăng 5% (tương ứng tăng 10,85 tỷ USD) và nhập khẩu đạt gần 210,3 tỷ USD, tăng nhẹ 0,3% (tương ứng tăng 661 triệu USD). Như vậy, qua 10 tháng, kim ngạch hàng hóa của cả nước đã đạt mức xuất siêu gần 19,5 tỷ USD. Thêm vào đó hiện nay dịch bệnh chưa được kiểm soát trên thế giới nên mỗi chuyến hàng xuất đi thì các thuyền viên khi cập cảng sẽ phải thực hiện cách ly – cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này.

“Thông thường cuối năm là thời điểm các doanh nghiệp tăng tốc xuất khẩu để kịp thời tiến độ giao hàng cho đối tác, trong khi năm nay chuỗi cung logistics lại đình trệ do dịch bệnh nên thiếu container là điều khó tránh khỏi”- ông Nguyên nhận định.

Trước việc thiếu container rỗng xuất khẩu, buộc các doanh nghiệp phải đàm phán với đối tác nhập khẩu để họ thông cảm vì gián đoạn trong quá trình vận chuyển. Bên cạnh đó, để khắc phục tình trạng nêu trên, một số cảng ở khu vực phía Nam cho biết đang tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao nguồn lực để tăng cường chất lượng dịch vụ vận chuyển container, rút ngắn thời gian quay vòng container. Cụ thể là Trung tâm Dịch vụ Logistics Tân Cảng (SNPL) đang đẩy mạnh vận chuyển container rỗng giữa cảng Cái Mép và ICD Tân Cảng Long Bình, cũng như tại các ICD khác như Sóng Thần, Nhơn Trạch, Hiệp Phước.

Ngoài ra, một số đang đề xuất cần liên kết các nhà xuất nhập khẩu có nhu cầu sử dụng container để tái sử dụng container. Đồng thời khuyến cáo các chủ hàng cần linh hoạt sử dụng container rỗng, ở vùng nào thì chủ động lấy container vùng đó để tránh tình trạng ùn tắc và thiếu hụt khi chỉ tập trung vào một chỗ.

Theo: Báo Công Thương

Thương mại hàng hóa Việt Nam trong ASEAN

Ngày 28/7/2020 đánh dấu một phần tư thế kỷ Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Gia nhập ASEAN được xem là bước đột phá đối với Việt Nam, tạo nền tảng cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia xu thế toàn cầu hóa cũng như tự do hóa thương mại. Sau 25 năm tham gia ASEAN, mối quan hệ hợp tác khu vực giữa Việt Nam với ASEAN ngày càng phát triển toàn diện và có tác động sâu sắc tới đời sống kinh tế – xã hội và chính trị của Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên các diễn đàn hợp tác khu vực và thế giới.Gia nhập ASEAN được xem là bước đột phá đối với Việt Nam, tạo nền tảng cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia xu thế toàn cầu hóa cũng như tự do hóa thương mại

Gia nhập ASEAN được xem là bước đột phá đối với Việt Nam, tạo nền tảng cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia xu thế toàn cầu hóa cũng như tự do hóa thương mại

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và ASEAN năm 2019 đạt 57 tỷ USD, tăng gấp 10 lần cách đây 25 năm và chiếm tỷ trọng 11% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước. Trong nội khối ASEAN, Việt Nam có vị trí thứ 3 về xuất nhập khẩu, chỉ sau Singapore và Thái Lan. Bên cạnh đó, ASEAN là thị trường xuất khẩu lớn thứ 4 của Việt Nam, chỉ đứng sau thị trường Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Việc gia nhập ASEAN đã giúp nâng tầm vị thế Việt Nam, tạo cơ sở giúp Việt Nam đẩy nhanh hơn tiến trình hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, để tiếp tục hướng tới phát triển và hợp tác khu vực bền vững, công cuộc hội nhập kinh tế ASEAN, Việt Nam cần có những định hướng, chính sách phù hợp.

Cán cân thương mại hàng hóa luôn nghiêng về thâm hụt với các nước ASEAN và trong suốt 20 năm gia nhập, Việt Nam chưa từng đạt thặng dư thương mại với khối này. Tuy nhiên, sự thâm hụt này là cần thiết không đáng lo ngại. Bởi Việt Nam đang có nhu cầu rất lớn về nguyên liệu đầu vào cho sản xuất trong khi thị trường ASEAN với lợi thế địa lý rất gần Việt Nam nên chi phí vận tải thấp, giá nguyên vật liệu có xuất xứ ASEAN lại khá thấp, thuế nhập khẩu các mặt hàng này cũng hầu hết 0% do ưu đãi đặc biệt trong quan hệ của các nước ASEAN nên việc thâm hụt này có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, quan sát biểu đồ chúng ta thấy mức tăng trưởng xuất khẩu bình quân cao hơn mức tăng trưởng nhập khẩu bình quân của Việt Nam trong ASEAN từ 3% – 5% hàng năm nên mức độ thâm hụt cũng ngày dần thu hẹp và trong giới hạn kiểm soát được và có thể tiến tới cân bằng trong tương lai. Tuy nhiên, xét từng quốc gia riêng lẻ, Việt Nam thặng dư thương mại với các nước Campuchia, Philippine, Myanmar và Lào. Việt Nam đều thâm hụt thương mại với các nước còn lại. Cụ thể, Việt Nam xuất khẩu nhiều sang các nước Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Campuchia và Philipines. Nhập khẩu chủ yếu từ các nước Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Singapore.

Trước năm 2010, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường ASEAN là các mặt hàng truyền thống như dầu thô và gạo. Đến nay, mặt hàng xuất khẩu sang ASEAN rất phong phú. Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang ASEAN là điện thoại các loại và linh kiện; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; sắt thép các loại; máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng… với nhiều ngành có lợi thế cạnh tranh bộc lộ. Một số mặt hàng có hàm lượng công nghệ như thiết bị ảnh, thép mạ và tàu đã xuất hiện trong hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, cho thấy sự chuyển biến tích cực trong cơ cấu xuất khẩu của nền kinh tế. Ngoài ra, một số sản phẩm xuất khẩu là thế mạnh của doanh nghiệp Việt Nam như hàng dệt may, giày dép, thủy sản, cà phê, cao su cũng đã được đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường ASEAN. Sự gia tăng trong xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường ASEAN do 2 yếu tố, một là nhu cầu thị trường tăng và hai là khai thác các lợi thế có sẵn.

Thực tế đã chứng minh, xuyên suốt chặng đường 25 năm là thành viên tích cực trong ASEAN, dù là thành viên đến sau, trình độ phát triển còn khoảng cách với nhiều nước, nhưng Việt Nam luôn thể hiện thiện chí và nỗ lực, nhiệt huyết và trách nhiệm, đóng góp không nhỏ vào thành tựu chung của ASEAN trên cả ba trụ cột là chính trị – an ninh, kinh tế và văn hóa – xã hội. Từ một quốc gia kém phát triển, ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh và bị bao vây cấm vận, ngay sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã từng bước khẳng định vai trò, vị thế của mình, cũng như tại các cơ chế hợp tác toàn cầu. Trong một phần tư thế kỷ gắn bó với ASEAN, Việt Nam để lại nhiều dấu ấn đậm nét được bạn bè và đối tác ghi nhận. Không quá lời khi nói rằng việc gia nhập ASEAN đã giúp nâng tầm vị thế Việt Nam, tạo cơ sở giúp Việt Nam đẩy nhanh hơn tiến trình hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, để tiếp tục hướng tới phát triển và hợp tác khu vực bền vững, công cuộc hội nhập kinh tế ASEAN, Việt Nam cần có những định hướng, chính sách phù hợp.

Chính phủ nên cung cấp thêm cho doanh nghiệp và người dân những thông tin, hiểu biết về Cộng đồng kinh tế ASEAN, bao gồm các chương trình truyền thông, cung cấp nhiều ấn phẩm, tài liệu tham khảo; tổ chức hội thảo liên tục hàng năm ở các tỉnh, thành phố trên cả nước. Chính phủ cũng nên có giải pháp tái cơ cấu sản xuất nhằm nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp; bổ sung thêm các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xúc tiến thương mại, nghiên cứu và dự báo thị trường, đổi mới công nghệ, bảo vệ thương hiệu, đào tạo nhân lực, phát triển cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường kinh doanh, tăng cường vai trò hỗ trợ và liên kết của các hiệp hội ngành hàng. Bên cạnh đó, bản thân doanh nghiệp và người dân cần có sự chủ động chuẩn bị và phối hợp với Chính phủ như chủ động tiếp cận thông tin về Cộng đồng kinh tế ASEAN, tích cực nắm bắt các chính sách của Chính phủ nhằm tận dụng sự hỗ trợ về đầu tư, kinh doanh và phát triển phù hợp với định hướng nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng trong sản xuất của Việt Nam trong thời gian tới.

Theo Vietnam Logistics Review

Nhiều thách thức giảm chi phí logistics tại Việt Nam

Giảm chi phí logistics là một yêu cầu quan trọng nhằm gia tăng cạnh tranh và thu hút đầu tư của Việt Nam. Tuy nhiên, chi phí logistics tại nước ta hiện nay vẫn rất cao, gặp nhiều khó khăn trong việc giảm giá thành vận chuyển, kho bãi.Chi phí vận chuyển logistics của Việt Nam gần gấp đôi so với các nền kinh tế phát triển và cao hơn 4% mức bình quân toàn cầu - Ảnh: Q.H

Chi phí vận chuyển logistics của Việt Nam gần gấp đôi so với các nền kinh tế phát triển và cao hơn 4% mức bình quân toàn cầu – Ảnh: Q.H

Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt cả trong và ngoài nước thì kiểm soát chi phí là một biện pháp hữu hiệu giúp cạnh tranh tốt hơn. Chi phí logistics ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm, do đó, chi phí này cao sẽ làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam.

Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được vận tải đa phương tiện

Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới World Bank (WB), chi phí vận chuyển logistics của Việt Nam tính theo tỷ trọng GDP khoảng 18-20%, gần gấp đôi so với các nền kinh tế phát triển và cao hơn 4% mức bình quân toàn cầu.

Ông Trần Đức Nghĩa – Giám đốc Công ty TNHH Quốc tế Delta đánh giá, cơ sở hạ tầng của Việt Nam mặc dù đã được cải thiện so với trước đây nhưng vẫn còn nhiều bất cập. Tuyến trục vận tải Nam – Bắc vẫn phụ thuộc rất lớn vào đường bộ, hạ tầng giao thông không được kết nối dẫn đến tăng chi phí, phí BOT cũng chiếm 13 – 15%

Báo cáo logistics Việt Nam của Bộ Công thương chỉ rõ, vận tải hàng hóa bằng đường bộ chiếm tỷ lệ hơn 76% trong khi chi phí đường bộ không hề rẻ. Bên cạnh đó, vận tải đường biển và thủy nội địa, hai phương thức phù hợp với lợi thế địa lý Việt Nam chỉ chiếm 4,9% và 18%. Vận tải hàng không chiếm phần rất nhỏ (0,03%).

Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin tạo ra khả năng tối ưu hóa quãng đường và nâng cao hiệu suất vận tải hàng hóa, tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa có đủ công nghệ để làm việc này.

Ngoài ra, việc kết nối giữa các loại hình vận tải, đặc biệt là giữa đường thủy nội địa với đường bộ không đồng bộ. Về nguyên tắc, chi phí vận tải thủy nội địa rẻ hơn nhiều so với đường bộ, nhưng sự kết nối giữa các công đoạn để làm thủ tục thiếu đồng bộ, chờ đợi bốc xếp ở hai đầu quá lâu, kéo dài thời gian dẫn đến giá thành bị đẩy lên cao.

Đa dạng hóa phương thức vận tải

Để giảm chi phí không đáng có khi vận chuyển hàng hóa nội địa và nước ngoài, cần sự phối hợp của các cơ quan ban ngành, hoàn thiện cơ chế phát triển logistics; hình thành các doanh nghiệp dịch vụ logistics đầu tàu, ứng dụng các công nghệ mới trong logistics, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics… Trong số đó, phải tập trung thu hút đầu tư vào phát triển hạ tầng giao thông đường bộ, đường sắt, cảng biển, cảng hàng không.

Ông David John Mavin – Phó Chủ tịch Phòng thương mại Australia tại Việt Nam chia sẻ, Việt Nam cần tăng cường vận tải đường thủy nội địa và đường biển nhằm thực hiện vận tải đa phương thức thay vì lệch hẳn về đường bộ như hiện nay. Ưu điểm của vận tải thủy nội địa là chuyên chở được khối lượng lớn sẽ giúp giảm chi phí.

Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Thúy Hằng – Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (ĐH Kinh tế Quốc dân) cho rằng, cần xây dựng các trung tâm logistics có vai trò tối ưu hóa mức dự trữ, đảm bảo chất lượng cao dịch vụ khách hàng, tối thiểu thời gian lưu chuyển hàng hóa và giảm chi phí tới mức tối đa. Cùng với đó, cần có các quy định rõ ràng và hợp lý cho hoạt động chuyên môn, chuyên ngành và phải đạt được các tiêu chuẩn và hiệu suất chất lượng tương đương của Châu Âu để cung cấp các giải pháp vận chuyển thương mại mang tính toàn cầu và phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, cần tăng cường hợp tác quốc tế để tạo được mạng lưới đối tác rộng khắp trên thế giới. Mạng lưới đối tác nước ngoài sẽ giúp các doanh nghiệp nội địa Việt Nam thực hiện được các dịch vụ trọn gói theo yêu cầu của các nhà xuất – nhập khẩu. Thông qua hợp tác quốc tế sẽ hình thành các trung tâm logistics ở nước ngoài làm đầu cầu, tập kết và phân phối hàng hóa Việt Nam đến các thị trường quốc tế.

Theo Thời báo Tài chính Việt Nam

Nhập khẩu hàng hóa phục hồi, xuất siêu tiếp tục lập kỷ lục

Sau 10 tháng,hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tiếp tục khả quan khi kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đang dần phục hồi tốt. Xuất siêu cũng tiếp tục được duy trì với con số cao kỷ lục.Tăng nhập khẩu hàng hóa để phục vụ sản xuất những tháng cuối năm

Tăng nhập khẩu hàng hóa để phục vụ sản xuất những tháng cuối năm

Theo số liệu sơ bộ vừa được Tổng cục Hải quan cập nhật, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá của cả nước trong tháng 10 đạt 51,36 tỷ USD, tương đương với mức trị giá của tháng 9 trước đó.

Trong đó, tổng trị giá xuất khẩu đạt 27,17 tỷ USD, tăng nhẹ 0,1% và tổng trị giá nhập khẩu đạt 24,19 tỷ USD, bằng với mức trị giá của tháng 9/2020.

Lũy kế 10 tháng đầu năm 2020, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam đạt 439,82 tỷ USD, tăng nhẹ 2,6% so với cùng kỳ năm 2019.

Trong đó tổng trị giá xuất khẩu ước đạt 229,65 tỷ USD, tăng 4,9% và tổng trị giá nhập khẩu ước đạt 210,17 tỷ USD, tăng 0,3%.

Đáng chú ý, sau nhiều tháng tăng trưởng âm, đến hết tháng 10, hoạt động nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đã có được tăng trưởng dương.

Phân tích kỹ hơn về câu chuyện nhập khẩu, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh có một lưu ý quan trọng là những tháng trước, nhập khẩu hàng hóa giảm nhưng là giảm nhập khẩu những mặt hàng mà chúng ta cần quản lý để hướng tới mục tiêu sâu xa hơn là cân bằng thương mại, hướng đến xuất nhập khẩu bền vững. Cụ thể, ô tô dưới 9 chỗ ngồi giảm tới 29%, rau quả, trái cây giảm tới 33%. Một số mặt hàng xa xỉ đắt tiền cũng giảm tới 7%. Cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam đang được quản lý tốt với việc các loại nguyên nhiên liệu, mặt hàng công nghiệp phụ trợ cho sản xuất vẫn có mức tăng trưởng tốt.

Đến tháng 10, nhập khẩu hàng hóa đang có dấu hiệu phục hồi, cho thấy nhu cầu nhập nguyên phụ liệu tiếp tục tăng cao trong dịp cuối năm để phục vụ các nhu cầu hàng hóa dịp Lễ Tết cho cả trong nước và xuất khẩu.

Ngoài ra, cán cân thương mại trong tháng 10/2020 thặng dư 2,98 tỷ USD. Tính chung hết tháng 10, nước ta xuất siêu tới 19,5 tỷ USD, cao hơn hẳn con số thặng dư 9,3 tỷ USD của cùng kỳ năm trước.

Trong bối cảnh xuất khẩu của nhiều quốc gia trong khu vực tiếp tục giảm hoặc tăng trưởng chậm lại thì kết quả tăng trưởng xuất khẩu ở mức 2,6% và duy trì cán cân thương mại thặng dư trong 10 tháng đầu năm của Việt Nam là sự nỗ lực rất lớn.

Trước đó, tại buổi họp báo thường kỳ Bộ Công Thương tháng 10/2020, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải nhấn mạnh, Bộ Công Thương đã tiến hành rà soát kỹ từng lĩnh vực, ngành hàng để cập nhật lại kịch bản điều hành, xem xét các giải pháp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu cho những tháng cuối năm. Qua đánh giá cho thấy các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xuất khẩu và thương mại nội địa cả năm 2020 đều có thể đạt kết quả tích cực hơn so với đánh giá hồi tháng 7/2020. Căn cứ bối cảnh tình hình hiện nay, dự kiến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam cả năm 2020 sẽ có thể đạt mức tăng từ 3-4% so với cùng kỳ.

Theo: Báo Công Thương

Sửa quy định về kiểm tra, giám sát hải quan phù hợp với cam kết quốc tế

Bộ Tài chính đang lấy ý kiến góp ý của nhân dân đối với dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan. Bộ Tài chính đang lấy ý kiến góp ý của nhân dân đối với dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ (Ảnh minh họa)

Bộ Tài chính đang lấy ý kiến góp ý của nhân dân đối với dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ (Ảnh minh họa)

Ngày 21/01/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan; một số Điều tại Nghị định cũng đã được Chính phủ sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018. Qua thời gian thực hiện, Nghị định đã góp phần thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư và hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, nâng cao hiệu quả của hoạt động hải quan và đảm bảo quản lý nhà nước về hải quan.

Tuy nhiên, trong bối cảnh những năm qua, Việt Nam tham gia ký kết một số Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới (như: EVFTA, CPTPP,…) đã khẳng định những cam kết sâu rộng và toàn diện, sẽ tạo điều kiện và động lực cơ hội để thay đổi, cải thiện chính sách và pháp luật theo hướng minh bạch hơn, thuận lợi và phù hợp hơn với thông lệ quốc tế. Các FTA thế hệ mới đòi hỏi Việt Nam phải kiện toàn hơn bộ máy nhà nước, hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ sở pháp lý, theo hướng đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường trách nhiệm, kỷ cương kỷ luật của đội ngũ cán bộ công chức, phù hợp với các thỏa thuận và cam kết, từ đó, hỗ trợ cho tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế của Việt Nam.

Qua thời gian thực hiện Nghị định số 08/2015/NĐ-CP đã bộc lộ một số vướng mắc, không còn phù hợp với thực tế công tác quản lý hiện nay hoặc chồng chéo với các quy định mới được ban hành, như: quy định về khai và nộp hồ sơ hải quan, quy định về quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan, công tác kiểm tra sau thông quan, quản lý doanh nghiệp ưu tiên, công tác kiểm tra, xác định trị giá hải quan, các quy định liên quan đến Cơ chế một cửa quốc gia, kiểm tra chuyên ngành,… Do vậy,việc ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 08/2015/NĐ-CP là thực sự cần thiết.

Theo Bộ Tài chính, mục đích của việc ban hành Nghị định này nhằm: Sửa đổi và đơn giản hoá thủ tục hành chính, đảm bảo tính minh bạch trong việc thực hiện các thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, xuất nhập cảnh phương tiện vận tải.

Đồng thời sửa đổi, bổ sung để phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia, như: Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu, Thỏa thuận công nhận lẫn nhau về doanh nghiệp ưu tiên của Hải quan Việt Nam và Hải quan Hàn Quốc…

Mời bạn đọc xem toàn văn dự thảo và góp ý tại đây.

Theo: Báo Chính phủ