Xuất nhập khẩu đạt hơn 413 tỷ USD, Việt Nam xuất siêu hơn 17 tỷ USD

Kim ngạch xuất nhập khẩu nửa đầu tháng 10 tiếp tục có chiều hướng khởi sắc, nhất là hoạt động xuất khẩu. Thông tin được Tổng cục Hải quan công bố chiều 19/10 cho thấy, nửa đầu tháng này kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt gần 25 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 12,72 tỷ USD, nhập khẩu đạt 11,92 tỷ USD.Hoạt động xuất nhập khẩu có nhiều khởi sắc thời gian gần đây - Biểu đồ: T.Bình

Hoạt động xuất nhập khẩu có nhiều khởi sắc thời gian gần đây – Biểu đồ: T.Bình

Nửa đầu tháng 10 có 4 nhóm hàng xuất khẩu đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên.

Dẫn đầu là điện thoại và linh kiện với trị giá 2,63 tỷ USD (lũy kế từ đầu năm đến 15/10 đạt 39,4 tỷ USD).

Các vị trí tiếp theo là: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 1,96 tỷ USD (lũy kế từ đầu năm đạt 34,2 tỷ USD); máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 1,38 tỷ USD (lũy kế từ đầu năm đạt 19,57 tỷ USD); dệt may đạt 1,28 tỷ USD (lũy kế từ đầu năm đạt 23,44 tỷ USD).

Ở chiều nhập khẩu, 2 nhóm hàng đạt kim ngạch tỷ USD trong nửa đầu tháng 10 là: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt hơn 3 tỷ USD (lũy kế từ đầu năm đạt hơn 48 tỷ USD); máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 1,58 tỷ USD (lũy kế từ đầu năm đạt hơn 28 tỷ USD).

Như vậy, từ đầu năm đến 15/10, quy mô tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt hơn 413 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu đạt 215,25 tỷ USD, nhập khẩu đạt 197,93 tỷ USD.

Cán cân thương mại từ đầu năm tiếp tục thặng dư ở mức cao với con số xuất siêu lên đến 17,32 tỷ USD (cùng kỳ năm 2019 xuất siêu 7,65 tỷ USD).

So với cùng kỳ năm 2019, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng gần 9,5 tỷ USD (tương đương tăng 4,6%). Trong khi đó, nhập khẩu chỉ còn kèm con số của cùng kỳ năm ngoái khoảng 200 triệu USD (tương đương chỉ còn giảm gần 0,1%).

Theo: Báo Hải quan

Kết nối nông sản với đường sắt và hàng không

Thị trường vận tải đường sắt và hàng không có nhiều tiềm năng phát triển bền vững, lâu dài, phục vụ cho sản xuất, lưu thông và phân phối các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, để tận dụng hết những tiềm năng hiện có, ngành đường sắt và đường hàng không phải có kế hoạch nâng cấp cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng phục vụ, hoàn thiện dịch vụ nhằm đẩy mạnh khai thác vận tải hàng hóa, nhất là đối với nông sản.

Ngày 08/9 vừa qua, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) phối hợp với Hiệp hội Nông nghiệp số Việt Nam (VIDA), Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), Trung tâm

Thông tin Công nghiệp và Thương mại (VITIC), Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam đã tổ chức Hội nghị trực tuyến kết nối doanh nghiệp Nông sản – Đường sắt – Hàng không.

Hội nghị được tổ chức nhằm giới thiệu góc nhìn sâu hơn, toàn diện hơn về hoạt động vận chuyển bằng đường sắt và đường hàng không; Cung cấp thông tin về những hỗ trợ của các doanh nghiệp logistics cho các doanh nghiệp kinh doanh nông sản; Kết nối trực tiếp giữa cung và cầu giảm thiểu chi phí logistics, góp phần nâng cao sức cạnh tranh, giúp ngành nông nghiệp Việt Nam vươn lên một vị thế mới trên bản đồ nông nghiệp toàn cầu.

Logistics là “nút thắt lớn” của nông sản việt

Nông nghiệp tạo việc làm và thu nhập cho khoảng 70% dân số, khoảng 15% GDP và 30% giá trị xuất khẩu, theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Nông sản là một trong những ngành xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, đóng góp tích cực vào kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước, trong đó có nhiều mặt hàng nằm trong nhóm xuất khẩu lớn như gạo, hạt điều, cà phê, cao su, bột sắn,…

Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu – Bộ Công Thương cho biết, năm 2019, kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam đạt gần 25,5 tỷ USD trong đó có 6 mặt hàng xuất khẩu chủ lực đạt kim ngạch trên 2 tỷ USD. Cụ thể, mặt hàng thủy sản đạt 8,5 tỷ USD; rau quả đạt 3,7 tỷ USD; hạt điều đạt 3,2 tỷ USD; cà phê đạt 2,86 tỷ USD; gạo đạt 2,81 tỷ USD.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, xuất khẩu nông sản Việt Nam cũng đang đối diện với những khó khăn, thách thức. Hoạt động logistics đối với nông sản đang là một trong những yếu tố khiến cho nông sản Việt khó phát huy được lợi thế cạnh tranh.

Các “nút thắt” logistics phục vụ xuất nhập khẩu nông sản phải kể đến là khâu bảo quản nông sản và hạ tầng logistics. Do tính chất đặc thù đối với một số loại hàng nông sản như chu kỳ sử dụng ngắn, dễ hư hỏng, có tính thời vụ theo mùa… nên hoạt động logistics phục vụ vận chuyển hàng nông sản đòi hỏi một quá trình tích hợp từ khâu sản xuất, thu hoạch, chế biến, đóng gói, lưu trữ, vận chuyển và phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng nhưng chuỗi liên kết này còn lỏng lẻo. Các hệ thống kho bãi, cơ sở chế biến hàng nông sản chưa được đầu tư đúng mức và thiếu trầm trọng chuỗi kho lạnh.

Ngoài ra, việc chỉ tập trung khai thác vận tải đường bộ trong vận chuyển hàng hóa nông sản xuất khẩu đã ảnh hưởng nhất định đến năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam do chi phí vận tải đường bộ khá cao, bên cạnh đó vẫn thường xuyên xảy ra tình trạng ùn ứ tại khu vực cửa khẩu do năng lực thông quan tại các cửa khẩu không đáp ứng được lượng hàng hóa xuất khẩu lớn khi vào dịp cao điểm.

Kết nối nông sản với đường sắt và đường hàng không

Theo kết quả khảo sát doanh nghiệp logistics về phương thức vận tải để vận chuyển hàng nông sản và hàng lạnh thì đường bộ được doanh nghiệp ưu tiên lựa chọn nhờ sự linh hoạt, thời gian vận chuyển nhanh, nhất là đối với những thị trường có chung đường biên giới với nước ta. Tiếp sau là đường biển do chi phí thấp, thích hợp cho việc xuất khẩu sang các thị trường xa và các mặt hàng có tính thời vụ thấp.

Đối với đường sắt và đường hàng không hiện chưa được sử dụng nhiều do hàng không có chi phí cao, chưa phù hợp với các mặt hàng nông sản giá trị thấp, đường sắt thì thiếu kết nối linh hoạt…

Để phát triển vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, trong đó có mặt hàng nông sản, thì phải có một hãng hàng không (Cargo airlines) với đội bay chuyên chở hàng hóa riêng biệt phục vụ cho các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam, cho các tuyến đường riêng biệt như bưu điện… Như vậy, giá cước phí mới giảm được.

Ông Đỗ Xuân Quang, Phó Tổng Giám đốc Vietjet Air Cargo

Trong 6 tháng đầu năm 2020, sản lượng xuất nhập khẩu bằng đường sắt đạt 420.000 tấn. Tuy nhiên, sản lượng vận chuyển hàng nông sản xuất nhập khẩu bằng đường sắt lại rất khiêm tốn, xuất nhập khẩu hàng nông sản chỉ bằng 4% (đạt 17.400 tấn) tổng sản lượng xuất nhập khẩu bằng đường sắt.

Theo ông Nguyễn Chính Nam, Trưởng Ban Kế hoạch – Kinh doanh, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, ngành đường sắt đã đầu tư nâng cấp chất lượng toa xe, triển khai khai thác vận chuyển container lạnh tự hành, cung cấp dịch vụ vận tải khép kín…

Để phát triển mạnh xuất nhập khẩu hàng nông sản, ngành đường sắt đang tích cực làm việc với các nước liên quan để thống nhất các giải pháp kỹ thuật kết nối, thông tin, giá cước, biểu phí dịch vụ để đưa ra mức giá hợp lý cho khách hàng.

Các đoàn tàu hàng liên vận quốc tế sang Trung Quốc đã được đưa vào khai thác với nhiều ưu thế như rút ngắn thời gian di chuyển, thủ tục thông quan chính ngạch tại cửa khẩu ga Đồng Đăng – Bằng Tường nhanh và thuận lợi, hàng hóa có thể đi sâu vào nội địa Trung Quốc không cần chuyển tải.

Với hàng không, ông Đỗ Xuân Quang, Phó Tổng Giám đốc Vietjet Air Cargo cho biết, các hãng hàng không trong nước mặc dù khá phát triển nhưng quy mô còn nhỏ so với các hãng nước ngoài. Chủ yếu tập trung khai thác bụng máy bay hành khách mà chưa có đầu tư vào máy bay chuyên chở hàng hóa (freighter). Hiện nay, các hãng hàng không nước ngoài đang chiếm lĩnh thị trường vận chuyển hàng hóa quốc tế (gần 90%).

Cùng với đó là giá cước hàng không quá cao, đặc biệt trong mùa dịch COVID-19, các máy bay chở khách tạm dừng các đường bay quốc tế trong khi chưa có các chuyến bay chuyên vận chuyển hàng hóa, điều này dẫn đến là các sản phẩm nông nghiệp của nước ta khó xuất khẩu và khó cạnh tranh với các nước.

Ông Đỗ Xuân Quang kiến nghị, để phát triển vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, trong đó có mặt hàng nông sản, thì phải có một hãng hàng không (Cargo airlines) với đội bay chuyên chở hàng hóa riêng biệt phục vụ cho các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam, cho các tuyến đường riêng biệt như bưu điện… Như vậy, giá cước phí mới giảm được. Đồng thời, cần đầu tư mạnh vào hệ thống logistics phục vụ lưu trữ, bảo quản, thông quan bảo đảm chất lượng xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam…

Theo: Vietnam Logistics Review

Xuất khẩu hoa quả vào Trung Quốc: Nhiều kì vọng mới

Khi Việt Nam và Trung Quốc cùng kiểm soát, khống chế tốt dịch Covid-19, kì vọng sản phẩm trái cây sẽ có nhiều bước bứt phá trong kim ngạch xuất, nhập khẩu.Việt Nam có tiềm năng trở thành một trong những nhà xuất khẩu trái cây lớn không những cho Trung Quốc mà còn cho cả thế giới

Việt Nam có tiềm năng trở thành một trong những nhà xuất khẩu trái cây lớn không những cho Trung Quốc mà còn cho cả thế giới

Số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan Việt Nam cho thấy, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Thị trường Trung Quốc trong 8 tháng đầu năm 2020 đạt 27,35 tỷ USD, trong đó nhóm hàng rau, quả có kim ngạch xuất khẩu đạt 1,31 tỷ USD, giảm 25,25% so với cùng kỳ năm 2019.

Giá hoa quả tăng, sức mua thấp

Theo Bộ Công Thương, nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm này là do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Ngoài ra, Trung Quốc cũng đã đưa ra nhiều biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam hơn, khi đưa ra những quy định nghiêm ngặt khắt khe hơn liên quan đến vấn đề truy xuất nguồn gốc, vệ sinh an toàn thực phẩm.

Cụ thể theo thông tin từ ông Viên Á Tường, Tổng Thư ký Hiệp hội Trái cây Thượng Hải (Trung Quốc), dù sản phẩm nội địa dồi dào nhưng hàng nhập khẩu vẫn được thị trường Trung Quốc ưa chuộng. Đặc biệt là những loại trái cây vừa đẹp, vừa ngon và nhiều loại trái cây nhập khẩu vào Trung Quốc đã làm được điều này.

Tuy nhiên, ông Viên Á Tường cũng thừa nhận, những tháng đầu năm nay, do ảnh hưởng của dịch COVID-19 đã khiến hoa quả nhập khẩu vào Trung Quốc giảm. Giá trung bình của măng cụt, thanh long, anh đào, cam quýt, dừa, dứa và sầu riêng nhập khẩu đều tăng so với cùng kỳ năm ngoái, do sức mua thấp, và sản phẩm gặp khó khăn trong vận chuyển khiến kéo dài thời gian, làm tăng chi phí logistics…

Tính đến thời điểm hiện tại, mới chỉ có 9 loại quả tươi của Việt Nam được phép xuất khẩu chính ngạch vào thị trường Trung Quốc, bao gồm thanh long, xoài, dưa hấu, vải, nhãn, chuối, mít, chôm chôm, măng cụt. Theo Bộ Công thương, hiện nhà quản lý vẫn đang đề nghị phía Trung Quốc thúc đẩy nhanh tiến trình mở cửa thị trường thêm cho các loại trái cây Việt Nam khác như sầu riêng, bưởi, chanh leo, na, roi,bơ, và dừa…

Như vậy có thể thấy, hiện thị trường Trung Quốc đã trở nên khó tính hơn rất nhiều lần so với trước đây. Các sản phẩm hàng hóa, đặc biệt là hàng nông sản, trái cây nếu không rõ nguồn gốc xuất xứ, không đảm bảo các quy định của phía bạn sẽ không thể đặt chân sang thị trường này. Đây là điều này hoàn toàn khác so với trước. Bởi vậy, các quy định mới từ phía thị trường bạn đã gây nên không ít khó khăn cho sản phẩm trái cây xuất khẩu của Việt Nam.

Các chuyên gia cho rằng, với nhu cầu nhập khẩu lớn các sản phẩm hoa quả của các chợ đầu mối, kênh phân phối bán buôn, bán lẻ tại Thượng Hải, sự ưa chuộng của nhiều người tiêu dùng Trung Quốc với đa dạng sản phẩm hoa quả Việt Nam, đây tiếp tục là thị trường mà các DN cần hướng đến trong thời gian tới.

Giới thiệu về tiềm năng hoa quả của Việt Nam, ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư Ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam nhấn mạnh, nông nghiệp làm vườn, trồng cây ăn trái sẽ là một trong những lĩnh vực mang nhiều hứa hẹn nhất của nền kinh tế Việt Nam. Theo các chuyên gia, Việt Nam có tiềm năng trở thành một trong những nhà xuất khẩu trái cây lớn không những cho Trung Quốc mà còn cho cả thế giới.

Tiềm năng đi kèm cơ hội xuất khẩu lớn

Theo ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, với nhu cầu nhập khẩu lớn các sản phẩm hoa quả của các chợ đầu mối, kênh phân phối bán buôn, bán lẻ tại Thượng Hải, sự ưa chuộng của nhiều người tiêu dùng Trung Quốc với đa dạng sản phẩm hoa quả Việt Nam, Cục XTTM tiếp tục kết nối các doanh nghiệp hoa quả Việt Nam tham gia giao dịch trực tuyến với các khách mua hàng tiềm năng.

Để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam và Trung Quốc hợp tác kinh doanh, Cục XTTM đã có Văn phòng XTTM ngay tại thủ phủ Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang (gần với Thượng Hải). Ông Phú cho biết, Văn phòng sẽ là địa điểm sẵn sàng hỗ trợ các doanh nghiệp Thượng Hải tìm kiếm các cơ hội hợp tác kinh doanh và đầu tư lâu dài với các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm hoa quả Việt Nam nói riêng và nhiều mặt hàng khác nói chung.

“Cục XTTM Việt Nam luôn ủng hộ, làm tốt vai trò cơ quan xúc tiến, là cầu nối để doanh nghiệp Việt Nam và thành phố Thượng Hải tăng cường giao lưu, kết nối kinh doanh và đầu tư hiệu quả”, ông Phú nói.

Đánh giá cao lợi thế của hàng Việt Nam nói chung và hoa quả nói riêng tại thị trường Thượng Hải, ông Ninh Thành Công, Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Thượng Hải cho biết, Việt Nam và Trung Quốc có nhiều thuận lợi để khai thác thế mạnh, tiềm năng thương mại sẵn có, nhất là trong lĩnh vực hoa quả.

Bên cạnh đó, cả Việt Nam và Trung Quốc cùng kiểm soát, khống chế tốt dịch COVID-19, giúp cho DN hai nước trao đổi thương mại thuận tiện hơn trong bối cảnh hiện nay. Đây chính là những yếu tố tạo thuận lợi cho việc kết nối giao thương giữa hai thị trường Việt Nam – Thượng Hải (Trung Quốc), với kì vọng sản phẩm trái cây sẽ có nhiều bước bứt phá trong kim ngạch xuất khẩu thời kỳ hậu COVID-19.

Tổng Thư ký Hiệp hội Trái cây Thượng Hải – ông Viên Á Tường cũng cho rằng, để chiếm thị phần nhiều hơn, đòi hỏi các DN phải cung ứng những sản phẩm có chất lượng và giá cả cạnh tranh. “Việc nâng cao chất lượng và hiệu quả trong sản xuất cũng sẽ tạo ra bước ngoặt. Nếu tuân thủ quan điểm chất lượng là trên hết, lấy thị trường làm phương hướng, lấy “ngon” làm nguyên tắc thì sẽ đạt được sự ổn định”, ông Viên Á Tường chỉ rõ.

Theo VOV

Tranh chấp về thay thế tài sản bảo hiểm

Tài sản bị tổn thất có thể được thay thế theo hợp đồng bảo hiểm nhưng cách làm không đơn giản như suy nghĩ của người được bảo hiểm vụ tranh chấp dẫn đến thiệt hại hàng trăm triệu đồng. Dưới đây là bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp khi tham gia bảo hiểm và để bạn đọc tham khảo trong hoạt động thực tiễn của mình.

Tóm tắt sự việc

Một công ty vận tải (Nguyên đơn) ký với một doanh nghiệp bảo hiểm (Bị đơn) hợp đồng bảo hiểm tàu biển (Hợp đồng bảo hiểm). Vào lúc 13h00 ngày 11/08/2017, tàu chở 1.100 tấn sắt vụn rời cảng Cần Thơ đi Hải Phòng trả hàng. Đến 19h20 cùng ngày, tàu tới khu neo cửa Định An thả neo chờ thủy triều phù hợp để ra luồng. Ngày 12/8/2017, vào lúc 03h00 tàu nhổ neo tiếp tục đi Hải Phòng. Đến 04h10 khi tàu tới phao số 20 thì mất khả năng điều động nên phải neo tại vị trí 9o 31.012N – 106o 21.737E. Máy trưởng đã kiểm tra và báo cáo hộp số đã mất khả năng ăn khớp nên tàu không thể hoạt động được. Thuyền trưởng đã liên lạc với Chủ tàu và tàu kéo để hỗ trợ kéo tàu về nơi sửa chữa hộp số. Ngay sau khi nhận được báo cáo của Thuyền trưởng, Nguyên đơn đã thông báo tai nạn cho Bị đơn để có hướng giải quyết. Vào lúc 08h30 ngày 19/08/2017, tàu được tàu lai dắt kéo vào cảng ở Hậu Giang để sữa chữa. Ngày 08/11/2017, Nguyên đơn yêu cầu trả số tiền bồi thường là 1.067.232.894 VNĐ nhưng Bị đơn từ chối bồi thường. Ngày 28/10/2019, Nguyên đơn kiện Bị đơn tại Trọng tài.

Quan điểm của các bên

Nguyên đơn cho rằng sự kiện bảo hiểm đã xảy ra nên Bị đơn phải bồi thường 1.396.319.951 VNĐ bao gồm: (i) 1.040.552.072 VNĐ chi phí khắc phục hậu quả sự cố, trong đó: 806.075.926 VNĐ tiền mua hộp số mới và căn chỉnh lắp đặt theo hợp đồng sửa chữa; 23.650.000 VNĐ tiền vé máy bay cho thợ lắp hộp số mới; 220.000.000 VNĐ chi phí lai dắt tàu về cảng ở Hậu Giang; 17.506.968 VNĐ chi phí cầu cảng và bốc xếp hộp số xuống tàu; trừ 26.680.822 VNĐ mức khấu trừ 2,5% số tiền bồi thường theo Hợp đồng bảo hiểm; (ii) 190.767.880 VNĐ tiền lãi chậm trả tiền bồi thường tạm tính từ ngày 30/11/2017 đến hết ngày 29/9/2019; Bị đơn phải tiếp tục trả tiền lãi tính từ ngày 30/9/2019 đến ngày thanh toán xong tiền bồi thường.

Bị đơn từ chối bồi thường với lý do không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm theo quy định tại Mục 6.2.2 của Điều khoản bảo hiểm và cho rằng giả sử có phải bồi thường thì số tiền cũng không thể nhiều như vậy.

Phân tích của hội đồng trọng tài và bài học kinh nghiệm

Về luật áp dụng, theo Hợp đồng bảo hiểm là “… là hệ thống luật Việt Nam hiện hành. Những điểm mà luật Việt Nam chưa quy định thì áp dụng luật và tập quán bảo hiểm Anh”.

Về rủi ro, Hội đồng trọng tài cho rằng rủi ro thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm nên Bị đơn có trách nhiệm bồi thường (vấn đề này khá dài và thú vị, sẽ được nêu trong một dịp khác nếu có thể).

Đối với yêu cầu bồi thường 1.396.319.951 VNĐ, Hội đồng Trọng tài nhận thấy: (i) Theo Báo cáo giám định, hộp số máy chính không bị hư hỏng toàn bộ, mà chỉ có một số chi tiết bị hư hỏng nhưng Nguyên đơn đã thay hộp số mới thay vì sửa chữa các chi tiết bị hư hỏng mà không có sự chấp nhận bằng văn bản của Bị đơn; (ii) Nguyên đơn nêu rằng mình chọn phương án thay hộp số mới theo tư vấn của Giám định viên, nhưng không xuất trình được bằng chứng về việc này; (iii) Nguyên đơn đã kýHợp đồng sửa chữa với công ty sửa chữa vào ngày 16/08/2017, trong khi mãi tới ngày 21/08/2017, thợ sửa chữa mới tháo hộp số để Giám định viên và Máy trưởng kiểm tra và ghi nhận các chi tiết hư hỏng. Như vậy, Nguyên đơn đã quyết định thay hộp số mới trước khi Giám định viên, Nguyên đơn và Bị đơn biết được thực trạng hư hỏng của hộp số; (iv) Tuy Nguyên đơn đã cung cấp chứng từ về các chi phí sửa chữa khắc phục hậu quả sự cố hỏng hộp số và Báo giá của công ty sửa chữa nhưng không giải trình được và cũng không xuất trình được chứng cứ về giá cả thị trường tại thời điểm và địa điểm xảy ra tổn thất để chứng minh tính hợp lý của các chi phí đó; (v) Giám định viên là người trực tiếp tại hiện trường thực hiện việc giám định, theo dõi và giám sát việc sửa chữa khắc phục hậu quả sự cố. Đánh giá của Giám định viên là độc lập, khách quan, căn cứ vào mức độ thiệt hại thực tế và dựa trên cơ sở giá cả thị trường tại thời điểm và địa điểm xảy ra tổn thất. Vì vậy, Hội đồng Trọng tài chấp nhận đánh giá của công ty giám định và cho rằng đó là bằng chứng tốt nhất hiện có để xác định các chi phí hợp lý khắc phục sự cố hỏng hộp số máy chính; (vi) Theo quy định tại khoản 3 Điều 47 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2010, Bị đơn có quyền thu hồi các chi tiết đã bị hư hỏng của hộp số sau khi bồi thường toàn bộ theo giá thị trường của các chi tiết này. Vì vậy, giá trị thu hồi vật tư thay thế sẽ được khấu trừ vào số tiền bồi thường bảo hiểm; (vii) Hợp đồng sửa chữa không quy định Nguyên đơn mua vé máy bay cho thợ sửa chữa; công ty sửa chữa cũng không yêu cầu việc này. Vì vậy, chi phí vé máy bay từ Hải Phòng vào Hậu Giang cho thợ sửa chữa không được Hội đồng Trọng tài chấp nhận; (viii) Chi phí cầu cảng và bốc xếp hộp số chưa được công ty giám định đánh giá trong Phụ lục 1 của Báo cáo giám định. Đây là các chi phí cần thiết phục vụ cho việc sửa chữa khắc phục hậu quả sự cố nên được Hội đồng Trọng tài chấp nhận; (ix) Các chi phí Nguyên đơn đòi bồi thường bao gồm cả thuế GTGT. Do thuế GTGT đầu vào Nguyên đơn đã được khấu trừ thuế GTGT đầu ra nên thuế GTGT của các chi phí nêu trên không được Hội đồng Trọng tài chấp nhận.

Từ những nhận định trên đây, Hội đồng Trọng tài quyết định rằng Bị đơn phải bồi thường chi phí hợp lý khắc phục hậu quả sự cố hỏng hộp số máy chính của tàu (chưa bao gồm thuế GTGT) là 560.021.425 VNĐ bao gồm: (1) Chi phí sửa chữa 344.106.000 VNĐ; (2) Chi phí lai dắt 200.000.000 VNĐ; (3) Chi phí cầu cảng và bốc xếp hộp số 15.915.425 VNĐ, trừ đi mức khấu trừ (15.000.000 VNĐ), chế tài 10% do lỗi thuyền viên (54.502.143 VNĐ), giá trị thu hồi vật tư thay thế (1.186.080 VNĐ), còn lại số tiền là 489.333.202 VNĐ và 109.396.135 VNĐ tiền lãi do chậm thanh toán từ ngày 09/12/2017 đến 03/3/2020. Tóm lại, tổng số tiền Bị đơn phải trả cho Nguyên đơn chưa bao gồm thuế GTGT là: 489.333.202 VNĐ + 109.396.135 VNĐ = 598.729.337 VNĐ.

Xin được nói thêm là Bị đơn (doanh nghiệp bảo hiểm trong vụ tranh chấp này) rất có ý thức tôn trọng pháp luật, đã sớm chuyển toàn bộ số tiền phải thi hành theo Phán quyết Trọng tài cho Nguyên đơn dù thời hạn thanh toán vẫn còn nhiều.

Theo: Vietnam Logistics Review

Cần sự phối hợp trong đấu tranh chống hàng giả

Hàng giả, hàng xâm phạm sở hữu trí tuệ (SHTT) không chỉ gây thiệt hại đến lợi ích người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến năng lực sản xuất của DN, do đó cần sự phối hợp chặt chẽ giữa DN và cơ quan chức năngtrong việc triệt phá, xử lý các vụ việc vi phạm.

Quy trình sản xuất khẩu trang giả của Công ty Nam Anh

Quy trình sản xuất khẩu trang giả của Công ty Nam Anh

Nỗ lực của lực lượng chức năng

Theo Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý thị trường (QLTT) Trần Hữu Linh, trong quá trình hội nhập quốc tế, những vụ vi phạm xâm phạm SHTT sẽ ngày càng gia tăng bởi Việt Nam đang trong quá trình thực thi các cam kết hội nhập quốc tế. Chính vì vậy, trọng tâm trong chiến lược hành động giai đoạn 2021-2025 của Tổng cục QLTT vẫn là chống hàng giả. Song song đó, Tổng cục sẽ san sẻ trách nhiệm cùng các đơn vị công tác ở vùng biên để ngăn chặn hàng lậu tuồn vào thị trường nội địa.

“Việc sản xuất hàng giả tràn lan, hàng nhập lậu về tràn lan làm suy giảm sức sản xuất của DN”, ông Trần Hữu Linh nhấn mạnh.

Lực lượng QLTT cũng sẽ tăng cường quản lý và ngăn chặn vi phạm trên môi trường internet, bởi đây cũng là mảng lớn tiềm tàng nguy cơ xâm phạm quyền SHTT. Đơn cử như kể từ khi đợt dịch Covid-19 mới bùng phát, lực lượng QLTT đã tiến hành kiểm tra, rà soát hàng loạt cơ sở sản xuất, kinh doanh khẩu trang, qua đó phát hiện hàng trăm nghìn sản phẩm, đặc biệt là khẩu trang giả, nhái các thương hiệu lưu thông trên thị trường.

Điển hình là ngày 30/7, Cục Nghiệp vụ Tổng cục QLTT, Tổ công tác 368 và Cục QLTT TPHCM đã kiểm tra đột xuất cơ sở sản xuất khẩu trang của Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại thiết bị Nam Anh. Công ty này nằm trên đường Trần Đại Nghĩa, quận Bình Chánh, TPHCM. Tại đây, đoàn công tác phát hiện khoảng 120 thùng khẩu trang, chứa hơn 151.000 khẩu trang có dấu hiệu giả mạo nhãn hiệu 3M. Đây là vụ xâm phạm SHTT lớn nhất từ đầu năm đến nay về mặt hàng khẩu trang đã được bảo hộ tại Việt Nam. Nếu không được phát hiện, số khẩu trang này dự kiến được đưa ra tiêu thụ toàn quốc.

Theo Trưởng đại diện, Giám đốc Quan hệ và thị trường Công ty TNHH 3M Việt Nam Nguyễn Minh Đức, những hỗ trợ của lực lượng QLTT không chỉ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của 3M với tư cách chủ thể quyền ở Việt Nam mà còn góp phần rất lớn trong việc bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của người tiêu dùng để tránh sử dụng những sản phẩm hàng giả, hàng nhái, không đảm bảo sức khỏe.

Phối hợp để đẩy lùi hàng giả

Tuy nhiên, bên cạnh sự phối hợp chặt chẽ của đa số DN vẫn còn một số DN còn thờ ờ với chính sản phẩm của mình. Theo ông Trần Hữu Linh, để công tác phòng, chống hàng giả đạt hiệu quả cần có sự phối hợp chặt chẽ của doanh nghiệp, người tiêu dùng trong việc cung cấp thông tin, địa bàn hoạt động cũng như những dấu hiệu vi phạm của đối tượng. Trong đó, sự phối hợp chặt chẽ giữa DN và cơ quan chức năng là một trong những điều kiện tiên quyết để triệt phá thành công các vụ việc vi phạm.

Mới đây, tại Lễ ký Quy chế phối hợp chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh xe máy giữa Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo 389 quốc gia và Hiệp hội các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMN), Chủ tịch Hiệp hội VAMN Keisuke Tsuruzono cho biết, Hiệp hội luôn đồng hành cùng Chính phủ Việt Nam làm trong sạch thị trường, góp phần khẳng định cam kết của Chính phủ Việt Nam với các Hiệp định thương mại tự do đã tham gia ký kết…

Ông Keisuke Tsuruzono khẳng định, với sự chỉ đạo quyết liệt của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, tin tưởng rằng Việt Nam sẽ chấm dứt được nạn hàng giả trong ngành công nghiệp xe máy.

Chánh Văn phòng Thường trực Ban chỉ đạo 389 quốc gia Đàm Thanh Thế khẳng đinh, việc ký quy chế phối hợp nhằm mục đích tăng cường hiệu quả công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh, xử lý với các hành vi buôn lậu, hàng giả, vi phạm sở hữu trí tuệ… góp phần tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Đồng thời, tăng cường công tác phối hợp giữa Văn phòng Thường trực và VAMN trong phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh, xử lý với các hành vi vi phạm.

Theo: Báo Hải quan

Xuất khẩu phương tiện vận tải của Việt Nam sang Nhật Bản đứng đầu về kim ngạch

Trong 7 tháng đầu năm 2020, kim ngạch xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng của Việt Nam đạt 4,38 triệu USD.

Thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan cho biết, trong 7 tháng đầu năm, xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 4,38 tỷ USD, giảm 12% so với cùng kỳ năm 2019

Thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan cho biết, trong 7 tháng đầu năm, xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 4,38 tỷ USD, giảm 12% so với cùng kỳ năm 2019. Đặc biệt, trong tháng 7/2020, xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 614 triệu USD, giảm 16% so với tháng 7 cùng kỳ năm ngoái, tuy nhiên tăng 7,8% so với tháng 6/2020.

Đồng thời, trong số hơn 30 thị trường xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng thì Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc là những thị trường đạt kim ngạch lớn nhất, chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.

Tháng 7, xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng sang Nhật Bản đạt 172,49 triệu USD, giảm 21% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng 9,7% so với tháng 6/2020. Trong 7 tháng đầu năm, kim ngạch đạt 1,2 tỷ USD, hiếm 28% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, giảm 19,2% so với cùng kỳ năm ngoái.

Đối với Hoa Kỳ, xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng sang thị trường này đạt kim ngạch 151 triệu USD trong tháng 7/2020, giảm 17% so với cùng kỳ năm 2019 và tăng 18% so với tháng 6/2020. Bên cạnh đó, trong 7 tháng đầu năm, con số này đạt 904 triệu USD, giảm 3% so với cùng kỳ năm 2019, chiếm 21% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.

Thị trường lớn thứ 3 đó là Hàn Quốc, với tổng kim ngạch trong 7 tháng đầu năm đạt 261 triệu USD, tăng 20% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước. Trong tháng 7, con số này đạt 41,84 triệu USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm 2019 và tăng 10% so với tháng 6/2020.

Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng đã sụt giảm khá nhiều ở hầu hết các thị trường so với năm 2019. Lý do là đại dịch COVID-19 đang ảnh hưởng tới hầu hết các nền kinh tế toàn thế giới, dẫn đến hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng theo. Cụ thế, các thị trường có kim ngạch 7 tháng đầu năm bị ảnh hưởng nhiều nhất gồm Thụy Sỹ giảm 94%, Na Uy giảm 91%,…

Theo: Nhịp sống kinh tế

Giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp: Cần bỏ cả các điều kiện gây khó

Nghị quyết 116/2020/QH14 của Quốc hội quy định giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) năm 2020 đối với DN có tổng doanh thu năm 2020 không quá 200 tỷ đồng chính thức có hiệu lực từ 03/8.

Nghị quyết 116/2020/QH14 của Quốc hội quy định giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) năm 2020 đối với DN có tổng doanh thu năm 2020 không quá 200 tỷ đồng chính thức có hiệu lực từ 03/8

Nghị quyết 116/2020/QH14 của Quốc hội quy định giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) năm 2020 đối với DN có tổng doanh thu năm 2020 không quá 200 tỷ đồng chính thức có hiệu lực từ 03/8

Nghị quyết này áp dụng đối với tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật Thuế TNDN.

Theo nghị quyết, việc giảm thuế TNDN chỉ áp dụng cho thu nhập phát sinh trong năm 2020 của các DN có tổng doanh thu trong năm không quá 200 tỷ đồng. Đây được xem là đối tượng dễ bị tổn thương trước tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19. Trong trường hợp DN mới thành lập trong năm 2020 (kỳ tính thuế năm 2020 không đủ 12 tháng), Nghị quyết quy định phân bổ doanh thu theo thời gian thực tế DN hoạt động trong năm 2020.

Theo Bộ Tài chính, tính đến cuối năm 2019, Việt Nam có khoảng 760.000 doanh nghiệp đang hoạt động.Trong cơ cấu DN của Việt Nam, DN có quy mô nhỏ, siêu nhỏ và vừa chiếm khoảng 97% tổng số DN.

Bộ Tài chính dự kiến với việc giảm thuế nêu trên, thu ngân sách năm 2020 sẽ giảm khoảng 23.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, việc giảm 30% số thuế TNDN sẽ góp phần hỗ trợ các DN vượt qua khó khăn do tác động của dịch COVID-19, tạo điều kiện cho các DN tích tụ vốn để phát triển sản xuất kinh doanh.

Nhiều ý kiến khác nhau

Trên cơ sở lấy ý kiến của các DN, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, dự thảo nghị định quy định chi tiết thi hành Nghị quyết của Quốc hội về giảm thuế TNDN năm 2020 mới đây vẫn còn thiếu nhiều quy định về: Xác định tổng doanh thu trong trường hợp DN có thời gian tạm ngưng kinh doanh; Chưa tính đến tình huống phát sinh là DN tự xác định doanh thu của DN dưới 200 tỷ đồng…

Để tạo thuận lợi cho DN, VCCI khuyến nghị, dự thảo nghị định chi tiết thi hành nghị quyết của Quốc hội nên bổ sung quy định về ngưỡng doanh thu phải nộp khoản tiền chậm nộp.Ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Việt Nam cho rằng, không nên tách riêng trường hợp DN có thời gian tạm ngưng kinh doanh để áp dụng cách tính tổng doanh thu theo thực tế. Theo ông Nam, nên tính tổng doanh thu theo đủ chu kỳ kinh doanh là 12 tháng. Việc tách riêng như vậy khó áp dụng trong thực tế và không đảm bảo tính công bằng giữa các DN.

Ông Nam cũng không đồng thuận với đề xuất bổ sung quy định về ngưỡng doanh thu phải nộp tiền chậm nộp đối với DN có doanh thu thực tế khi quyết toán vượt trên 200 tỷ đồng so với lúc kê khai. Theo ông Nam, dịch COVID-19 đang khiến hàng loạt DNNVV phá sản. DNNVV rất khó đạt doanh thu 200 tỷ đồng/năm khi dịch còn diễn biến phức tạp. Do đó, ông Nam cho rằng, nếu bổ sung quy định về ngưỡng doanh thu sẽ triệt tiêu ý nghĩa hỗ trợ của Nhà nước đối với DN là đối tượng dễ bị tổn thương trước các tác động tiêu cực bởi dịch bệnh.

Theo thống kê từ Bộ KH&ĐT, 7 tháng đầu năm 2020, lĩnh vực bán buôn và bán lẻ ghi nhận số DN chờ giải thể lớn nhất trong tất cả các ngành kinh doanh, với 8.102 DN. Theo sau bán buôn, bán lẻ là hơn 2.500 DN công nghiệp chế biến, chế tạo và trên 2.356 DN trong ngành xây dựng trong tổng số hơn 21.800 DN trên cả nước tạm ngừng hoạt động chờ giải thể.

Theo: Tiền phong

Cán cân thương mại 7 tháng đầu năm ước tính xuất siêu 6,5 tỷ USD

Dịch COVID-19 ngày càng lan nhanh trên thế giới, tiếp tục gây ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động xuất, nhập khẩu của Việt Nam. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 7 tháng năm 2020 ước tính đạt 285,12 tỷ USD, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 145,79 tỷ USD, tăng nhẹ 0,2%; nhập khẩu đạt 139,33 tỷ USD, giảm 2,9%

Xuất khẩu tăng trong 7 tháng đầu năm 2020

Xuất khẩu tăng trong 7 tháng đầu năm 2020

Khu vực kinh tế trong nước là điểm sáng trong hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam khi kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu 7 tháng đều tăng so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu đạt 50,76 tỷ USD, tăng cao 13,5%; nhập khẩu đạt 61,86 tỷ USD, tăng 1,5%. Cán cân thương mại hàng hóa 7 tháng ước tính xuất siêu 6,5 tỷ USD.

Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện tháng 6/2020 đạt 22.565 triệu USD, cao hơn 1.565 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 448 triệu USD; hàng dệt may cao hơn 402 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 197 triệu USD; sắt thép cao hơn 137 triệu USD; đá quý, kim loại quý và sản phẩm cao hơn 108 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 107 triệu USD.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 7/2020 ước tính đạt 23 tỷ USD, tăng 1,9% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 8,5 tỷ USD, tăng 2,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 14,5 tỷ USD, tăng 1,5%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu tháng 7/2020 tăng nhẹ 0,3%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 10,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) giảm 4,9%.

Tính chung 7 tháng năm 2020, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 145,79 tỷ USD, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước tiếp tục là điểm sáng với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 50,76 tỷ USD, tăng 13,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 95,03 tỷ USD (chiếm 65,2% tổng kim ngạch xuất khẩu), giảm 5,7%.

Trong 7 tháng có 23 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 87% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó: Điện thoại và linh kiện đạt 25,7 tỷ USD, giảm 6,6% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 23,1 tỷ USD, tăng 24,3%; hàng dệt may đạt 16,2 tỷ USD, giảm 12,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 12,4 tỷ USD, tăng 27,1%; giày dép đạt 9,5 tỷ USD, giảm 7,9%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 6,1 tỷ USD, tăng 6,2%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 4,4 tỷ USD, giảm 12,3%; thủy sản đạt 4,4 tỷ USD, giảm 6,4%; sắt thép đạt 2,5 tỷ USD, giảm 2,7%. Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu của đa số các mặt hàng nông sản đều giảm so với cùng kỳ năm trước: Rau quả đạt 2 tỷ USD, giảm 12,3%; cà phê đạt 1,8 tỷ USD, giảm 0,5% (lượng giảm 0,1%); hạt điều đạt 1,7 tỷ USD, giảm 4% (lượng tăng 10,4%); cao su đạt 855 triệu USD, giảm 20,3% (lượng giảm 15,1%); hạt tiêu đạt 405 triệu USD, giảm 20,6% (lượng giảm 6,5%). Duy nhất sản phẩm gạo đạt 1,9 tỷ USD, tăng 10,9% (lượng giảm 1,4%).

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 7 tháng, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 76,5 tỷ USD, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 52,5% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa (tăng 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2019). Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp ước tính đạt 53,3 tỷ USD, giảm 1,6% và chiếm 36,6% (giảm 0,7 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 11,6 tỷ USD, giảm 3,7% và chiếm 8% (giảm 0,3 điểm phần trăm). Nhóm hàng thủy sản đạt 4,4 tỷ USD, giảm 6,4% và chiếm 3% (giảm 0,2 điểm phần trăm).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng với kim ngạch đạt 37,9 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là Trung Quốc đạt 23,5 tỷ USD, tăng 18,4%. Thị trường EU đạt 19,5 tỷ USD, giảm 5,9%. Thị trường ASEAN đạt 12,8 tỷ USD, giảm 15,4%. Nhật Bản đạt 10,9 tỷ USD, giảm 5%. Hàn Quốc đạt 10,7 tỷ USD, giảm 0,4%.

Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa thực hiện tháng 6/2020 đạt 20.713 triệu USD, cao hơn 213 triệu USD so với số ước tính, trong đó thức ăn gia súc cao hơn 160 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 137 triệu USD; điện thoại và linh kiện thấp hơn 62 triệu USD.Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 7/2020 ước tính đạt 22 tỷ USD, tăng 6,2% so với tháng trước

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 7/2020 ước tính đạt 22 tỷ USD, tăng 6,2% so với tháng trước

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 7/2020 ước tính đạt 22 tỷ USD, tăng 6,2% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 10,2 tỷ USD, tăng 5,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 11,8 tỷ USD, tăng 6,5%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu tháng 7/2020 ước tính giảm 2,9%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 8,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 10,9%.

Tính chung 7 tháng năm 2020, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 139,33 tỷ USD, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 61,86 tỷ USD, tăng 1,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 77,47 tỷ USD, giảm 6,2%.

Trong 7 tháng có 25 mặt hàng đạt kim ngạch nhập khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 83,6% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 32,6 tỷ USD (chiếm 23,4% tổng kim ngạch nhập khẩu), tăng 14% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 19,9 tỷ USD, giảm 4%; điện thoại và linh kiện đạt 7,1 tỷ USD, giảm 2,4%; vải đạt 6,6 tỷ USD, giảm 14,9%; sắt thép đạt 4,8 tỷ USD, giảm 14,1%; chất dẻo đạt 4,6 tỷ USD, giảm 12,4%; sản phẩm chất dẻo đạt 3,9 tỷ USD, tăng 5,8%; kim loại thường đạt 3,2 tỷ USD, giảm 12,8%; sản phẩm hóa chất đạt 3,1 tỷ USD, tăng 2,8%; ô tô đạt 2,9 tỷ USD, giảm 32,6%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 2,9 tỷ USD, giảm 15,5%.

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu 7 tháng, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 130,25 tỷ USD, giảm 2,6% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 93,5% tổng kim ngạch nhập khẩu; nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 9,08 tỷ USD, giảm 7,3% và chiếm 6,5%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu trong 7 tháng, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước tính đạt 41,6 tỷ USD, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc đạt 24,3 tỷ USD, giảm 9,2%; ASEAN đạt 16,7 tỷ USD, giảm 11,3%; Nhật Bản đạt 11,2 tỷ USD, tăng 5,1%; Hoa Kỳ đạt 8,3 tỷ USD, tăng 2,5%; EU đạt 8,3 tỷ USD, tăng 6%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng 6/2020 xuất siêu 1,9 tỷ USD; 6 tháng xuất siêu 5,5 tỷ USD; tháng Bảy ước tính xuất siêu 1 tỷ USD. Tính chung 7 tháng năm 2020, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 6,5 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 11,1 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 17,6 tỷ USD.

Theo: Thương trường

COVID-19: Cú hích lớn cho mua sắm trực tuyến

Trong giai đoạn 2016 – 2020, thị trường thương mại điện tử tại Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng tích cực lên tới 30% mỗi năm, theo số liệu của Bộ Công thương. Việt Nam đang phấn đấu để đạt tới con số 55% dân số tham gia hoạt động mua sắm trực tuyến và doanh thu từ hoạt động thương mại điện tử đạt 35 tỷ USD vào năm 2025, theo kế hoạch tổng thể vừa được phê duyệt hồi đầu năm.

Đại dịch được coi là cú hích giúp đẩy nhanh sự thay đổi trong hành vi của người tiêu dùng, với một lượng lớn người dùng chuyển sang hình thức mua bán trực tuyến

Đại dịch được coi là cú hích giúp đẩy nhanh sự thay đổi trong hành vi của người tiêu dùng, với một lượng lớn người dùng chuyển sang hình thức mua bán trực tuyến

Ngụ tại quận Long Biên, Hà Nội, bà Võ Thị Thu, 71 tuổi vừa trải nghiệm lần mua sắm trực tuyến lần đầu tiên trong đời. Với sự giúp đỡ của con gái, bà đã đặt mua một chiếc máy làm mì sợi trên mạng.

“Tôi đã rất háo hức chờ đợi món hàng đầu tiên của mình được chuyển đến. Lẽ ra tôi nên mua sắm trực tuyến từ sớm hơn, việc này thật tiện lợi”, bà chia sẻ.

Khác với bà Thu, chị Phạm Thị Hoa, 28 tuổi, đã quen với việc mua hàng online. Tuy nhiên, thay vì chỉ hướng đến các mặt hàng mỹ phẩm như trước đây, chị bắt đầu đặt thêm các loại thực phẩm tươi sống.

“Tôi không cần phải đến tận các cửa hàng để sắm nhu yếu phẩm nữa”, chị chia sẻ với vẻ hài lòng bởi đã có nhiều thời gian hơn để làm việc nhà vào mỗi cuối tuần.

Chị Hoa đã quyết định mua sắm các loại thực phẩm tươi như trứng, cá, rau và trái cây thông qua các ứng dụng trực tuyến lần đầu tiên vào đầu tháng 3, thời điểm xã hội đang phải thực hiện giãn cách bởi dịch bệnh. Trước đó, chị chỉ tin dùng sử dụng các loại thực phẩm được tự tay chọn lựa vì sự an toàn và chất lượng.

“Nhưng chỉ sau vài lần thử nghiệm, tôi rất hài lòng vì chất lượng hàng hóa đã đáp ứng được tới 90% so với kỳ vọng”, chị nhận xét.

Chị Hoa và bà Thu chỉ là vài ví dụ trong số hàng ngàn người tiêu dùng tại Việt Nam đã có những thay đổi trong hành vi mua sắm thường ngày của mình. Các chỉ thị giãn cách xã hội để phòng chống dịch bệnh được ban hành vào tháng 3 và tháng 4 đã đem tới nhiều thách thức buộc các doanh nghiệp phải tự điều chỉnh kế hoạch kinh doanh và phân phối để thích nghi với tình hình mới.

Đại dịch được coi là cú hích giúp đẩy nhanh sự thay đổi trong hành vi của người tiêu dùng, với một lượng lớn người dùng chuyển sang hình thức mua bán trực tuyến.

Một cuộc khảo sát gần đây của công ty nghiên cứu thị trường Ipsos đã cho thấy rằng người tiêu dùng Việt Nam đã gặp phải nhiều hạn chế trong việc mua sắm tại các siêu thị, cửa hàng truyền thống. Khoảng 30% số người tham gia khảo sát cho biết họ cũng ít mua sắm thường xuyên hơn tại các siêu thị, trong khi đó lại ưu tiên các nền tảng thương mại điện tử hoặc dịch vụ giao đồ ăn tại nhà.

Theo Tổng cục Thống kê, mua sắm trực tuyến đã trở nên ngày một phổ biến trong nửa đầu năm 2020. Bất chấp tác động của dịch Covid-19 tới nền kinh tế, doanh thu bán lẻ của các doanh nghiệp trên cả nước đã tăng 3,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó mặt hàng thực phẩm và các đồ dùng liên quan có mức tăng cao nhất, lên tới 7%.

Nhận thấy xu hướng mới trong hành vi của người tiêu dùng, nhiều thương hiệu bán lẻ đã nhanh chóng điều chỉnh mô hình kinh doanh của mình. Họ tập trung nhiều hơn ở các kênh bán hàng trực tuyến và tìm hiểu thêm những chiến lược mới để tiếp cận và thu hút thêm khách hàng.

Nhiều siêu thị đã tiến hành cung cấp thêm các dịch vụ phục mua sắm trực tuyến, đặc biệt là qua các ứng dụng điện thoại. Các nền tảng thương mại điện tử như Shopee, Lazada hay Tiki đã triển khai các chiến dịch quảng cáo, khuyến mãi thường xuyên hơn.

Về phía các công ty công nghệ, nhiều giải pháp mới đã được giới thiệu để kịp đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Ví dụ như Grab đã giới thiệu một dịch vụ mới có tên “Trợ lý Grab”. Dịch vụ này sẽ giúp kết nối khách hàng với một tài xế ở gần đó trong việc hỗ trợ họ mua sắm tại các cửa hàng tiện lợi. Sau đó hàng hóa theo yêu cầu sẽ được giao tới khách hàng trong khoảng một giờ đồng hồ.

Covid-19 không chỉ là một dịp “thử nghiệm” mà còn là động lực lớn giúp các hoạt động thương mại điện tử nở rộ và phát triển.

Theo trích dẫn từ số liệu thống kê, ông Nguyễn Ngọc Dũng, Phó chủ tịch Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), cho biết số lượng người tham gia mua sắm trực tuyến lần đầu tăng khoảng 40% trong thời gian diễn ra đại dịch. Ông cũng đưa ra dự báo rằng quy mô thị trường sẽ mở rộng lên khoảng 13 đến 15 tỷ USD trong năm nay.

Nhiều doanh nghiệp bày tỏ sự lạc quan về triển vọng phát triển quy mô của thị trường, cũng như sự tin tưởng từ phía khách hàng. Hầu hết trong số đó sẽ cố gắng duy trì việc làm cho đội ngũ nhân viên và rất có thể mở nhiều đợt tuyển dụng hơn trong nửa cuối năm 2020, một khảo sát gần đây của VECOM cho biết thêm.

Theo: Trí thức trẻ

Xuất khẩu nông sản quyết “về đích” 41 tỷ USD bất chấp COVID-19

Xuất siêu gần 5,2 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm, toàn ngành nông, lâm, thủy sản quyết đạt mục tiêu trị giá xuất khẩu 41 tỷ USD trong cả năm nay.

Xuất khẩu nông sản quyết về đích 41 tỷ USD

Xuất khẩu nông sản quyết về đích 41 tỷ USD

Theo thông tin mà Bộ NN&PTNT vừa phát đi chiều tối nay, 27/7, 7 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng nông, lâm, thủy sản ước đạt gần 39,5 tỷ USD.

Trong đó, xuất khẩu ước đạt 22,3 tỷ USD, giảm 2,8% so với cùng kỳ năm 2019; nhập khẩu ước đạt 17,2 tỷ USD, giảm 4,6% so với cùng kỳ năm 2019; xuất siêu gần 5,2 tỷ USD, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2019.

Riêng về xuất khẩu, trong tổng số 22,3 tỷ USD, nhóm nông sản chính ước đạt 10,4 tỷ USD, giảm 4,0%; chăn nuôi ước đạt 213 triệu USD, giảm 24,9%; thủy sản ước đạt 4,4 tỷ USD, giảm 6,4%; lâm sản chính đạt 6,5 tỷ USD, tăng 6,7%.

Đại diện Bộ NN&PTNT nhận định, những tháng cuối năm tình hình thế giới, khu vực sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Cụ thể như, bất ổn liên quan dịch Covid-19, chính sách thương mại, căng thẳng địa chính trị tại một số khu vực; xu hướng bảo hộ sản xuất trong nước.

Bên cạnh đó, nhiều thị trường nhập khẩu nông sản siết chặt hơn nữa hàng rào kỹ thuật và các biện pháp tự vệ thương mại, yêu cầu mới về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, cấp chứng thư xuất khẩu, đẩy mạnh chính ngạch, thanh kiểm tra chất lượng tại nước xuất khẩu…

Tuy vậy, Bộ NN&PTNT nhận định thời gian tới, việc thực thi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) cũng sẽ mở ra cơ hội, triển vọng thị trường lớn cho hàng nông sản Việt Nam.

Trên cơ sở phân tích như trên, Bộ NN&PTNT dự kiến phương án tăng trưởng toàn ngành phấn đấu đạt 2,6 – 3%; phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2020 khoảng 41 tỷ USD.

Trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn phân tích: “Nếu tình hình diễn biến thị trường tiến triển tốt, vẫn như thời điểm nửa cuối tháng 6 đến nay thì ngành nông nghiệp vẫn có thể đạt được kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 41 tỷ USD cả năm. Ngược lại, nếu xảy ra tình trạng dịch Covid-19 bùng phát trở lại nghiêm trọng, các thị trường đóng cửa thì rất khó đoán định”.

Để đạt được tăng trưởng toàn ngành cũng như mục tiêu xuất khẩu 41 tỷ USD trong năm nay, lãnh đạo Bộ NN&PTNT nhấn mạnh, giải pháp cụ thể đặt ra là tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại ngành, nâng cao năng suất, chất lượng hàng nông sản và hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Theo đó tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp để cơ cấu lại ngành nông nghiệp một cách thiết thực, hiệu quả hơn, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và xây dựng nông thôn mới, theo 3 trục sản phẩm (nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia; nhóm sản phẩm chủ lực cấp tỉnh; nhóm sản phẩm chủ lực địa phương theo mô hình “Mỗi xã một sản phẩm”).

Ngoài ra, Bộ NN&PTNT xác định đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu; mở rộng thị trường xuất khẩu chính ngạch các sản phẩm chủ lực; tích cực đàm phán mở cửa thị trường xuất khẩu, giữ ổn định các thị trường truyền thống, tìm kiếm và mở rộng các thị trường tiềm năng; hạn chế thấp nhất sự phụ thuộc vào một số thị trường nhất định.

“Bên cạnh đó, giải pháp quan trọng còn là triển khai tích cực, khai thác hiệu quả cơ hội của các FTA đem lại, tăng cường các hoạt động phát triển thị trường; chuẩn bị tốt các điều kiện để đẩy mạnh xuất khẩu khi EVFTA có hiệu lực…”, Thứ trưởng Hà Công Tuấn nói.

Tính đến giữa tháng 7/2020, cả nước gieo cấy được 6,4 triệu ha lúa, giảm 182 nghìn ha so với cùng kỳ năm 2019.

Về chăn nuôi, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tháng 7/2020, tổng đàn lợn giảm 3,0% so với cùng kỳ; đàn gia cầm tăng 5,5%; đàn bò tăng 3,0%.

Về lâm nghiệp, tính chung 7 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng mới của cả nước ước đạt 119,0 nghìn ha, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 8.985,0 nghìn m3, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước; diện tích rừng bị thiệt hại là 1.647,2 ha, giảm 5,6% so với cùng kỳ năm trước.

Về thủy sản, lũy kế 7 tháng đầu năm, tổng sản lượng ước đạt gần 4,65 triệu tấn, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước.

Theo: Báo Hải quan