Đến năm 2025: 80% hoạt động kiểm tra Hải quan sẽ thực hiện trên môi trường số

Trong Dự thảo Chiến lược phát triển Hải quan giai đoạn 2021 – 2030, mục tiêu tới năm 2025, ngành Hải quan sẽ cơ bản hoàn thành hải quan số, 90% hồ sơ công việc tại Tổng cục Hải quan xử lý trên môi trường mạng, 80% hoạt động kiểm tra Hải quan thực hiện trên môi trường số.Kế hoạch đến năm 2025, 80% hoạt động kiểm tra Hải quan sẽ thực hiện trên môi trường số

Kế hoạch đến năm 2025, 80% hoạt động kiểm tra Hải quan sẽ thực hiện trên môi trường số

Bộ Tài chính vừa gửi lấy ý kiến các bộ, ngành về Dự thảo Chiến lược phát triển Hải quan giai đoạn 2021 – 2030 trước khi trình Thủ tướng xem xét phê duyệt.

Theo đó, kế hoạch đến năm 2025 sẽ cơ bản hoàn thành Hải quan số. Bên cạnh đó, sẽ hoàn thiện môi trường làm việc điện tử trong ngành Hải quan, hướng tới môi trường phi giấy tờ trong quản lý nhà nước về hải quan thông qua việc đẩy mạnh sử dụng chữ ký số đảm bảo 90% hồ sơ công việc tại Tổng cục Hải quan được xử lý trên môi trường mạng; 80% hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan được thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống công nghệ thông tin của Tổng cục Hải quan.

Tới năm 2030, có 100% chứng từ thuộc hồ sơ hải quan được chuyển sang điện tử, tiến tới số hóa. Tất cả cảng, cửa khẩu hải quan quốc tế trọng điểm được triển khai hệ thống giám sát hàng hoá tự động. Tất cả hàng hóa rủi ro chở bằng container được giám sát hải quan bằng phương tiện kỹ thuật hiện đại. Phấn đấu mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan đạt 95% trở lên.

Dự thảo Chiến lược phát triển Hải quan giai đoạn 2021 – 2030 đặt ra mục tiêu tổng quát là xây dựng Hải quan Việt Nam chính quy, hiện đại, ngang tầm hải quan các nước phát triển trên thế giới, dẫn đầu trong thực hiện Chính phủ số, với mô hình hải quan thông minh.

Bên cạnh đó, dự thảo cũng đặt ra yêu cầu ngành hải quan nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hải quan, quản lý hải quan và thu thuế hiệu quả, tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, du lịch và vận tải hợp pháp qua biên giới, tạo môi trường xuất nhập khẩu minh bạch, công bằng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đảm bảo an ninh, an toàn xã hội và bảo vệ lợi ích, chủ quyền quốc gia.

Cải cách thủ tục hành chính hải quan theo hướng minh bạch, đơn giản, thống nhất, phù hợp với các chuẩn mực và khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thế giới nhằm giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục thông quan, giải phóng hàng.

Tập trung hóa, hiện đại hóa, tự động hóa công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan; đẩy mạnh kiểm tra trước và sau thông quan; triển khai mô hình biên giới thông minh, hải quan xanh; cải cách mô hình kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu. Tạo thuận lợi cho thương mại hợp pháp, ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng.

Xây dựng Hệ thống công nghệ thông tin Hải quan tập trung, tích hợp thông minh đảm bảo các yêu cầu về an toàn thông tin hệ thống, với nền tảng số, phù hợp với kiến trúc Chính phủ điện tử, Chính phủ số, chuẩn mực quốc tế, ứng dụng mạnh mẽ những thành tựu khoa học, công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Đổi mới tổ chức bộ máy hải quan với cơ cấu gọn nhẹ, giảm đầu mối trung gian đáp ứng yêu cầu triển khai mô hình hải quan thông minh và thực hiện nhiệm vụ đầu mối kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa nhập khẩu tại cửa khẩu.

Đẩy mạnh công tác hợp tác và hội nhập quốc tế về hải quan toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả, nâng cao vai trò, vị thế và uy tín của Hải quan Việt Nam trong cộng đồng hải quan thế giới; phát triển quan hệ hợp tác, đối tác giữa Hải quan với các bên liên quan tạo nền tảng và góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Hải quan.

Điểm nổi bật trong Dự thảo chiến lược là đặt ra mục tiêu xây dựng tổ chức bộ máy hải quan 3 cấp, gồm cấp tổng cục, vùng và chi cục nhằm tinh gọn, giảm đầu mối trung gian, không chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, đảm bảo hoạt động hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu quản lý nghiệp vụ hải quan tập trung thông minh.

Tổ chức hoạt động mỗi hải quan vùng chỉ 1 địa chỉ tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ hải quan. Việc kiểm tra thực tế, giám sát hàng hóa, giám sát sản xuất và gia công hàng hóa của doanh nghiệp do chi cục hải quan cửa khẩu, hoặc chi cục hải quan địa bàn nơi doanh nghiệp có cơ sở sản xuất thực hiện…

Cùng đó, kiện toàn bộ máy làm kiểm định hải quan để triển khai mô hình kiểm tra chuyên ngành với hàng hóa xuất nhập khẩu theo hướng cơ quan hải quan là đấu mối thực hiện đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu.

Theo doanhnhanvn.vn

8 tháng, xuất nhập khẩu hàng hóa duy trì ở mức cao

Trong tháng 8 năm 2021, dịch COVID-19 lần thứ tư vẫn diễn biến phức tạp khiến nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước phải tiếp tục thực hiện giãn cách, đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, đà tăng mạnh những tháng trước đó giúp kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa duy trì ở mức cao sau 8 tháng.Xuất khẩu gặp khó khăn do COVID-19

Xuất khẩu gặp khó khăn do COVID-19

Xuất nhập khẩu ảnh hưởng mạnh do dịch bệnh

Theo Bộ Công Thương, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tháng 8/2021 ước tính đạt 53,7 tỷ USD, giảm 5,8% so với tháng trước. Tuy nhiên, nhờ tốc độ tăng trưởng cao trong những tháng trước đó nên tính chung 8 tháng năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước tính vẫn đạt ở mức cao, đạt 428,81 tỷ USD, tăng 27,2% so với cùng kỳ năm trước.

Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 8/2021 ước tính đạt 26,2 tỷ USD, giảm 6% so với tháng trước. Tính chung 8 tháng năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 212,55 tỷ USD, tăng 21,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 55,69 tỷ USD, tăng 10,5%, chiếm 26,2% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 156,86 tỷ USD, tăng 25,5%, chiếm 73,8%. Có 30 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD.

Trong tháng 8/2021, kim ngạch xuất khẩu của cả 3 nhóm hàng chính đều giảm so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, tính chung 8 tháng, cả 3 nhóm hàng công nghiệp chế biến, nhóm hàng nông, thủy sản và nhóm nhiên liệu khoáng sản đều có kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng dương so với cùng kỳ.

Đơn cử, trong nhóm hàng nông thủy sản, trong tháng 8, gạo là mặt hàng ghi nhận sự sụt giảm mạnh nhất khi giảm tới 14,8% về lượng và giảm 6,8% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Dịch Covid-19 đang ảnh hưởng lớn đến việc thu hoạch và lưu thông lúa gạo tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Tương tự kim ngạch xuất khẩu chè cũng giảm 6% về lượng và 1,6% về trị giá so với cùng kỳ. Trong khi đó, xuất khẩu cà phê và hạt tiêu giảm về lượng nhưng vẫn tăng về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Ngược lại, hạt điều, sắn và sản phẩm sắn, cao su là 3 mặt hàng duy trì được đà tăng trưởng xuất khẩu cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

Với nhóm công nghiệp chế biến, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực trong nhóm này biến động trái chiều. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu điện thoại; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác; sắt thép các loại tăng cao. Ngược lại, nhiều mặt hàng có kim ngạch sụt giảm so với cùng kỳ năm ngoái như: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, hàng dệt và may mặc, gỗ và sản phẩm gỗ, giày dép các loại… Mặc dù giảm trong tháng 8 nhưng tính chung trong 8 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng chính của nhóm này đều tăng.

Về thị trường xuất khẩu, 8 tháng đầu năm 2021, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Tiếp đến là Trung Quốc, EU, ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản.

Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 8/2021 ước tính đạt 27,5 tỷ USD, giảm 5,5% so với tháng trước. Tính chung 8 tháng năm 2021, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 216,26 tỷ USD, tăng 33,8% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch nhập khẩu tập trung chủ yếu vào nhóm hàng nhập khẩu, chiếm đến 88,4% tổng kim ngạch nhập khẩu.

Cán cân thương mại hàng hóa tháng 8 ước tính nhập siêu 1,3 tỷ USD. Tính chung 8 tháng năm 2021, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 3,71 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 13,69 tỷ USD), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 20,36 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 16,65 tỷ USD.

Theo Bộ Công Thương, nhìn chung, trong thời gian qua, dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, kéo dài, có phạm vi trải rộng trên toàn quốc, tốc độ lây lan nhanh và nguy hiểm hơn đã ảnh hưởng đến hầu hết các ngành, lĩnh vực, địa bàn trọng điểm, động lực tăng trưởng của cả nước. Trước tác động của dịch bệnh Covid-19, ách tắc trong sản xuất, lưu thông hàng hóa đã và đang được tập trung tháo gỡ quyết liệt; tuy nhiên tại một số địa phương, công tác tổ chức thực hiện có nơi, có lúc còn cứng nhắc, ban hành một số quy định không phù hợp, thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất, không tuân thủ chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, hướng dẫn của các cơ quan trung ương. Các nhà máy, đơn vị sản xuất đóng tại địa phương là một mắt xích của chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng nên khi bị gián đoạn tại một địa phương đã tác động dây chuyền, gây khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu bị ảnh hưởng, phải trì hoãn, hủy đơn hàng, có nguy cơ bị mất thị trường, thay đổi chuỗi cung ứng.

Củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu

Theo Bộ Công Thương, hiện nay, nhu cầu hàng hóa trên thị trường thế giới vẫn đang trong xu hướng phục hồi trở lại, trong đó việc Mỹ và EU tái mở cửa nền kinh tế nhờ tiến trình tiêm vắc xin ngừa Covid-19 được triển khai rộng rãi đang tác động tích cực tới nhu cầu hàng hóa của các thị trường này. Tuy nhiên, làn sóng dịch Covid-19 lần thứ 4 trong nước, đặc biệt là tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh thành phía Nam đang ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất, xuất khẩu từ tháng 7 đến nay. Do đó, tăng trưởng sản xuất và xuất nhập khẩu trong thời gian tới sẽ phụ thuộc rất lớn vào kết quả của việc kiểm soát dịch bệnh cũng như tiến trình tiêm chủng vắc xin ngừa COVID-19 trên toàn quốc.

Đồng thời, các hiệp định thương mại tự do đang dần được thực thi một cách toàn diện hơn, hiệu quả hơn, được kỳ vọng sẽ tiếp tục thúc đẩy các ngành xuất khẩu của Việt Nam, tạo điều kiện để hàng hóa của Việt Nam thâm nhập vào các thị trường đối tác với thuế quan ưu đãi, thông qua đó thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng mạnh trong thời gian tới. Theo chu kỳ nhập khẩu hàng hóa nguyên liệu sản xuất thường tăng vào đầu năm và giảm dần vào cuối năm trong khi xuất khẩu tăng trong những tháng cuối năm. Nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng cao phục vụ cho mùa tiêu dùng trong những tháng cuối năm 2021, đặc biệt là đối với ngành điện tử, đồ gỗ, hàng dệt may, da giày và thủy sản… Vì vậy cán cân thương mại được dự báo sẽ cải thiện dần trong thời gian tới.

Tuy nhiên, hoạt động xuất nhập khẩu có thể vẫn gặp nhiều khó khăn khi dịch bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam buộc phải kéo dài thời gian giãn cách xã hội khiến cho hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp gặp không ít khó khăn, giao thông vận tải, hậu cần và logistics bị gián đoạn. Các doanh nghiệp hoạt động trong điều kiện phải đảm bảo phòng chống dịch với những yêu cầu nghiêm ngặt, đáp ứng được các điều kiện sản xuất “3 tại chỗ” hoặc “một cung đường, hai điểm đến”… Không những vậy, việc lao động về quê tránh dịch cũng dẫn đến nguy cơ thiếu lao động sản xuất sau khi dịch được kiểm soát, đặc biệt là lao động trong lĩnh vực cần có tay nghề như cơ khí, điện tử… Quá trình thông quan xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Quốc, đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản thời gian gần đây gặp khá nhiều bất lợi khi Trung Quốc liên tục tăng cường các biện pháp kiểm soát dịch bệnh tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc.

Do đó, từ nay đến cuối năm để ngăn chặn đà suy giảm xuất khẩu do ảnh hưởng của đại dịch, Bộ Công Thương đã và đang tập trung các giải pháp củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu, tận dụng tối đa lợi thế từ các FTA đã có hiệu lực; hướng dẫn doanh nghiệp chú trọng vào các thị trường nhỏ và thị trường ngách. Đồng thời, ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 23 tháng 8 năm 2021 về tăng cường quản lý xuất khẩu, nhập khẩu một số mặt hàng chiến lược; làm việc với Đại sứ quán Trung Quốc đề nghị tạo thuận lợi cho hoạt động thông quan, xuất khẩu hàng hóa qua cửa khẩu biên giới phía Bắc. Bên cạnh đó, tiếp tục đổi mới, tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu cả trong và ngoài nước trên môi trường trực tuyến và dựa trên những nền tảng mới, tập trung vào những hàng hóa, nông sản đang vào mùa vụ.

Theo Báo Công Thương

Thu ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu tỉnh Hà Tĩnh vượt 5.000 tỷ đồng

Theo thông tin từ Cục Hải quan Hà Tĩnh, tính đến hết ngày 18/8, đơn vị đã mở 9.826 tờ khai (tăng 56% so với cùng kỳ năm 2020) với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 3.525,75 triệu USD (tăng 95,1% so với cùng kỳ năm 2020).Bốc dỡ hàng hóa tại cảng Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh - Ảnh: Nhật Minh

Bốc dỡ hàng hóa tại cảng Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh – Ảnh: Nhật Minh

Qua đó, Cục Hải quan Hà Tĩnh đã thu về hơn 5.292,99 tỷ đồng từ hoạt động xuất, nhập khẩu, đạt 102,18% dự toán thu ngân sách năm 2021 do Bộ Tài chính giao (5.180 tỷ đồng) và tăng 86,99% với cùng kỳ năm 2020.

Cụ thể, thu từ Chi cục Hải quan Cửa khẩu cảng Vũng Áng đạt 4.970,73 tỷ đồng, thu từ Chi cục Hải quan Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo đạt 306,18 tỷ đồng, còn lại là thu từ Chi cục Hải quan Cửa khẩu cảng Xuân Hải và bộ phận kiểm tra sau thông quan của Phòng Nghiệp vụ.

Theo Cục Hải quan Hà Tĩnh, nguồn thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu tăng đột biến thời gian qua là nhờ sự phát triển nhanh của kinh tế tỉnh, đặc biệt là sự phát triển năng động của Khu kinh tế Vũng Áng và Khu kinh tế Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo. Đi kèm với đó là khối lượng thiết bị máy móc, vật tư cực lớn được nhà đầu tư nhập khẩu để xây dựng…

Bên cạnh đó, Hải quan Hà Tĩnh cũng đã triển khai quyết liệt cải cách thủ tục hành chính; đặc biệt là triển khai hệ thống hải quan điện tử và thông quan điện tử để hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp hoạt động và đóng nộp ngân sách nhà nước.

Trong hành trình 30 năm tái lập tỉnh, hoạt động thu ngân sách đã trở thành một dấu ấn nổi bật. Thành tựu này thể hiện sự phát triển vượt bậc về KT-XH của tỉnh nhà, đưa Hà Tĩnh sánh vai với các tỉnh, thành có số thu nộp ngân sách khá của cả nước.

Theo Vietnam Logistics Review

6 giải pháp cấp bách gỡ khó cho doanh nghiệp logistics

Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics đang chịu áp lực từ nhiều phía giữa việc đảm bảo an toàn chống dịch và duy trì chuỗi cung ứng, sản xuất cho nền kinh tế. Hiện nay, các doanh nghiệp ngành logistics đang phải chịu sức ép của nhiều quy định phòng dịch như lái xe phải có xét nghiệm, xe vận chuyển phải có mã QR nhận diện luồng xanh, hàng hóa phải thuộc diện thiết yếu theo quy định của Bộ Công Thương và các chốt phòng dịch của địa phương…

Sáng 08/8, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã chủ trì Hội nghị trực tuyến toàn quốc của Chính phủ với đại diện doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp và các địa phương về các giải pháp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong bối cảnh dịch COVID-19.

Dịch COVID-19 diễn biến ngày càng phức tạp đã gây ra những tổn thất, đảo lộn của toàn ngành kinh tế. Trong đó, ngành logistics – “mắc xích” quan trọng của toàn ngành kinh tế đang đối mặt với những khó khăn, thách thức chưa từng có. COVID-19 làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, làm đứt gãy chuỗi cung ứng của các ngành sản xuất, xuất nhập khẩu và tiêu dùng trong nước.

Từ thực tế này, Hiệp Hội VLA đề xuất nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics trong bối cảnh đại dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp hiện nay.

Thứ nhất, VLA đề nghị Chính phủ chấp thuận đề xuất tại Công văn số 4482/BCT-TTTN của Bộ Công thương về việc ban hành Danh mục hàng hóa “cấm lưu thông” thay vì liệt kê Danh mục “hàng hóa thiết yếu” được phép lưu thông. Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu lực và hiệu quả, VLA đề nghị lãnh đạo Chính phủ hoặc Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ký ban hành nhằm được tuân thủ, áp dụng thống nhất trong cả nước qua đó tránh gây khó khăn cho Doanh nghiệp khi triển khai thực hiện.

Thứ hai, VLA đề nghị các UBND tỉnh, thành phố nơi có các cửa khẩu quốc tế đường biển, đường hàng không phải ưu tiên phân “luồng xanh” cho vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu, không để xảy ra tình trạng chậm trễ kết nối với các chuyến tàu, máy bay đã đặt lịch, hoặc nguyên liệu không đến kịp nhà máy gây đứt gãy sản xuất.

Thứ ba, VLA đề nghị Chính phủ và các địa phương xem xét ưu tiên tiêm phòng vắc xin cho các lao động trực tiếp làm dịch vụ logistics ở các cảng biển, cảng hàng không, kho bãi, làm các thủ tục xếp dỡ hàng hóa để đảm bảo hoạt động logistics được liên tục trong chuỗi cung ứng hàng hóa nhằm tránh đứt gãy chuỗi cung ứng đặc biệt tại các cảng quốc tế.

Thứ tư, theo báo cáo về tình trạng ùn tắc, quá tải của cảng Cát Lái do Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn điều hành, quản lý, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động xuất nhập khẩu, tác động trực tiếp đến các doanh nghiệp kinh doanh vận tải, logistics, VLA ủng hộ các biện pháp mà Tân Cảng Sài Gòn đã đưa ra và đề nghị Chính phủ có chính sách phù hợp để cho phép giải phóng hàng nghìn container hàng “vô chủ” đang bỏ lại tại cảng Cát Lái và một số cảng chính hiện nay đã quá hạn trên 60 ngày, theo quy định tại Bộ Luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, Khoản 4, Điều 167.

Đồng thời, thực hiện giải pháp cần thiết để điều tiết các hãng tàu container về khu vực cảng đã được đầu tư xây dựng và phù hợp với quy hoạch vẫn đang còn dư công suất tại khu vực Quận 7, Hiệp Phước, như SGHP, Tân Thuận, Bến Nghé, VICT, SPCT hay Cảng GML, SP-PSA tại Cai Mép-Thị Vải.

Qua sự việc xảy ra với Cảng Cát Lái trong thời gian qua (cũng như đã xảy ra vào đầu năm 2019), VLA nhấn mạnh, cơ quan quản lý Nhà nước mà cụ thể là Cục hàng hải cần phát huy vai trò điều tiết giữa các khu vực cảng biển để đảm bảo hàng hóa được lưu thông thuận lợi trong bối cảnh năng lực/công suất của các cảng trong khu vực TP. HCM và lân cận còn chưa khai thác hết.

Đồng thời đề xuất thay đổi quy trình thủ tục giám sát hải quan theo hướng thuận lợi hóa thương mại, cho phép các doanh nghiệp khai báo hải quan chung theo tỉnh, thành phố hoặc khu vực lớn hơn và đưa hàng về các địa điểm thông quan trong khu vực dưới sự giám sát của Hải quan như thông lệ của các nước Tây Âu – Bắc Mỹ sẽ làm giảm ùn tắc và quá tải cảng cửa ngõ (vì hiện nay đã áp dụng khai báo điện tử 1 cửa trên phần mềm thống nhất VASSVM).

VLA đề nghị Chính phủ có chính sách khống chế lượng hàng hóa trong thành phố, đưa về các nơi quy hoạch mới. Nạo vét luồng để các cảng khu vực Hiệp Phước phát huy công năng, giảm bớt sức ép cho cảng Cát Lái, đảm bảo hiệu quả khai thác cho các cảng hiện hữu (tối thiểu 75% công suất); duy trì hoạt động chung của chuỗi logistics ổn định trong mọi tình huống.Hiện nay, các doanh nghiệp ngành logistics đang phải chịu sức ép của nhiều quy định gây khó khăn cho duy trì chuỗi cung ứng, sản xuất cho nền kinh tế

Hiện nay, các doanh nghiệp ngành logistics đang phải chịu sức ép của nhiều quy định gây khó khăn cho duy trì chuỗi cung ứng, sản xuất cho nền kinh tế

Thứ năm, về vấn đề giảm chi phí logistics cho doanh nghiệp, VLA đề nghị không áp dụng các chính sách làm tăng chi phí logistics nói chung, như thu phí hạ tầng cảng biển ở TP. HCM từ 01/10 và giảm mức thu phí hạ tầng cảng biển của TP Hải Phòng.

Về giải quyết khó khăn trong việc các hãng tàu nước ngoài tăng giá cước vận chuyển cao liên tục làm ảnh hưởng đến sản xuất, xuất nhập khẩu, VLA đề nghị các Hiệp hội ngành hang, VLA và Hiệp hội Đại lý Môi giới hàng hải Việt Nam, Hiệp hội Cảng biển Việt Nam cùng với VCCI có sự phối hợp, hợp tác với nhau và với các doanh nghiệp thành viên trong việc trao đổi thông tin về tình hình thị trường giá cước, container rỗng và hoạt động nghiệp vụ để cùng là đối tác giải quyết với các Hãng vận chuyển trong việc lưu cước, giá cước, và giảm phụ phí hàng hải.

Đề nghị Bộ Công thương, Bộ Nội vụ nhanh chóng củng cố Hiệp hội Chủ hàng đủ mạnh để đại diện cho các chủ hàng trong việc đấu tranh với các hãng vận chuyển về giá cước, lưu cước tàu…trong cơ chế thị trường hiện nay. Đây là một yêu cầu cấp bách.

Đề nghị các Bộ, ngành quản lý như Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công Thương và Bộ Tài Chính có sự chỉ đạo hiệu quả trong việc thực thi các văn bản pháp luật như Nghị định 146 về khai báo cước phí vận chuyển đường biển của các hãng tàu container nước ngoài và hạn chế việc tăng cước vận chuyển vô kiềm tỏa (thiếu kiểm soát) như hiện nay. Đồng thời, không được tăng và có biện pháp giảm hoặc loại bỏ một số phụ phí trong 12 loại phụ phí đường biển cao như hiện nay. Đây là một vấn đề cấp bách mà các doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu của nước ta đang yêu cầu được giải quyết. Đề nghị Bộ Công Thương vào cuộc cho điều tra, xem xét việc chống độc quyền của các Hãng liên minh vận chuyển liên quan theo Luật cạnh tranh của Việt Nam.

Đề nghị Chính phủ có quyết sách phát triển vận chuyển vận tải biển mang thương hiệu Việt Nam. Cụ thể là phát triển đội tàu container cỡ lớn kinh doanh tuyến xa như châu Mỹ, châu Âu, đáp ứng phần nào yêu cầu chuyên chở hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam, như đề xuất của Hiệp hội VLA.

Thứ sáu, VLA đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông hỗ trợ các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics và các doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu trong việc chuyển đổi số phục vụ cho hoạt động kinh doanh, nhất là phát triển Thương mại điện tử xuyên biên giới.

Những giải pháp trên được Hiệp hội VLA đưa ra sẽ phần nào gỡ khó cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logitics hiện nay, vừa đảm bảo công tác chống dịch hiệu quả vừa duy trì chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất, giữ vững vai trò là mắc xích quan trọng của toàn ngành kinh tế.

Theo Vietnam Logistics Review

Thương mại Việt – Mỹ vượt 50 tỷ USD

Theo Tổng cục Hải quan, 6 tháng đầu năm 2021, kim ngạch thương mại song phương Việt Nam và Mỹ có mức tăng trưởng khá và đạt hơn 50 tỷ USD.Xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ tăng trưởng tốt

Xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ tăng trưởng tốt

Cụ thể, hết tháng 6, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đạt 45,58 tỷ USD, tăng 44,7% so với cùng kỳ 2020 và chiếm 28,8% kim ngạch xuất khẩu cả nước.

Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong nhiều năm gần đây. Nhóm hàng xuất khẩu lớn của Việt Nam sang Mỹ là dệt may. 6 tháng đầu năm nay, xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ đạt kim ngạch đạt 7,61 tỷ USD, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 49,7% xuất khẩu hàng dệt may của cả nước. Ngoài ra, Mỹ cũng nhập khẩu điện thoại, máy vi tính, nông sản, giày dép, gỗ, thủy sản… từ Việt Nam.

Ở chiều ngược lại, hết tháng 6, Việt Nam nhập khẩu từ Mỹ đạt 7,63 tỷ USD, tăng 9% so với cùng kỳ 2020 và chiếm 4,8% kim ngạch nhập khẩu cả nước. Mỹ cũng là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam ở châu Mỹ. Nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất từ Mỹ là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, bông, đậu tương, phế liệu sắt thép…

Như vậy, 6 tháng đầu năm, thương mại Việt Nam và Mỹ đạt 53,21 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất siêu gần 38 tỷ USD.

Năm 2020 là năm đầu tiên tổng kim ngạch trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Mỹ vượt qua mốc 90 tỷ USD (đạt 90,8 tỷ USD) và hai nước cùng cùng hướng tới con số 100 tỷ USD vào năm 2021.

Tính chung giai đoạn 2016 – 2020, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đã tăng 230%, trong khi xuất khẩu từ Mỹ vào Việt Nam cũng tăng trưởng tới hơn 175%. Mỹ đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 10 của Mỹ.

Cơ hội gia tăng kim ngạch thương mại giữa hai bên rất rộng mở trong thời gian tới khi mới đây, Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) vừa chính thức ban hành kết luận của vụ việc điều tra theo Mục 301 Đạo luật Thương mại 1974 về các hành vi, chính sách và thực tiễn áp dụng của Việt Nam liên quan đến vấn đề định giá thấp tiền tệ.

Theo đó, trên cơ sở những giải pháp thỏa đáng, đáp ứng được mục tiêu của cuộc điều tra như đã nêu tại Thỏa thuận đạt được ngày 19/7/2021 giữa Bộ Tài chính Hoa Kỳ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, USTR sẽ không ban hành bất kỳ biện pháp hạn chế thương mại nào đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Trong thời gian qua, với vai trò Chủ tịch phân ban Việt Nam trong Hội đồng Thương mại và Đầu tư Việt Nam – Mỹ (TIFA), Bộ Công Thương đã phối hợp cùng với các Bộ ngành Việt Nam đã thúc đẩy hoạt động đối thoại chính sách thông qua cơ chế của Hội đồng TIFA đạt được nhiều kết quả thực chất. Kể từ sau cuộc họp cấp Chủ tịch vào tháng 10/2019, dưới sự chỉ đạo mạnh mẽ của Thủ tướng Chính phủ, Lãnh đạo các Bộ ngành của Việt Nam đã phối hợp tích cực với phía Mỹ nỗ lực xử lý nhiều vấn đề, đem lại kết quả cụ thể, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động trao đổi thương mại song phương.

Thời gian tới, Việt Nam sẽ tiếp tục chủ động hợp tác với các đối tác Mỹ để giải quyết một cách toàn diện các quan tâm của Mỹ và Việt Nam, qua đó duy trì quan hệ thương mại ổn định, hướng tới cán cân thương mại hài hòa, bền vững, hai bên cùng có lợi.

Theo Báo Công Thương

Bắc Ninh, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 19 tỷ USD

Là một trong những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của đợt dịch COVID-19 lần thứ 4 nhưng vượt lên khó khăn, Bắc Ninh vẫn duy trì và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, từng bước thực hiện thắng lợi “mục tiêu kép” mà Chính phủ đề ra.Công nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Bắc Ninh - Ảnh: Quang Định

Công nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Bắc Ninh – Ảnh: Quang Định

Tính đến hết tháng 6/2021, tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh ước đạt 61.115 tỷ đồng (tăng 7,45% so cùng kỳ). Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 7,59%; công nghiệp – xây dựng tăng 8,86%; dịch vụ tăng 2,61%; thuế sản phẩm tăng 3,29%. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo đúng định hướng: Khu vực công nghiệp – xây dựng chiếm 76,19%; dịch vụ chiếm 16,49%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 3,49%; thuế sản phẩm chiếm 3,84%. Sản xuất công nghiệp vẫn giữ vai trò đầu tầu của nền kinh tế và đạt mức tăng trưởng cao.

Nhờ tận dụng tốt các cơ hội của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và sự dịch chuyển của nền kinh tế toàn cầu nên sản xuất kinh doanh của các tập đoàn, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có sự phục hồi và phát triển mạnh trong 4 tháng đầu năm.

Sang tháng 5 và 6, tuy dịch COVID-19 xuất hiện và bùng phát mạnh, song với quyết tâm không để gián đoạn chuỗi liên kết toàn cầu và làm đứt gãy nền kinh tế, Bắc Ninh đã nhanh chóng, kịp thời, sáng tạo triển khai nhiều giải pháp “chưa từng có tiền lệ” để bảo vệ sản xuất. Điển hình là hàng trăm doanh nghiệp trên địa bàn triển khai cho người lao động ở, ăn và làm việc tại nhà máy, vừa duy trì sản xuất, vừa bảo đảm an toàn phòng, chống dịch trong nhà máy cũng như trong cộng đồng. Nhờ đó, hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp vẫn được duy trì, đạt tăng trưởng tốt. Riêng chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 6 tháng vẫn tăng 10,88% so cùng kỳ; GRDP khu vực công nghiệp tăng 9,84%…

Các doanh nghiệp sản xuất vẫn duy trì, chuỗi cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm tốt nên tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Bắc Ninh vẫn tăng cao, ước đạt 35,2 tỷ USD (tăng 27,5%). Trong đó, xuất khẩu ước 19 tỷ USD, tăng 29,5%.

Thêm nữa, nhờ tạo lập một môi trường đầu tư thông thoáng và hấp dẫn, Bắc Ninh vẫn là điểm tin cậy của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tính riêng thu hút đầu tư trong nước 6 tháng đã cấp mới đăng ký đầu tư tăng 17,4% về số lượng dự án và gấp 5,14 lần quy mô vốn đầu tư so với cùng kỳ. Đối với đầu tư nước ngoài đã cấp mới 63 dự án, tổng vốn 397,4 triệu USD (tuy giảm 35% số lượng dự án nhưng tăng gấp 2 quy mô vốn so với cùng kỳ); Lũy kế, hiện có 1.674 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn 20 tỷ 136,8 triệu USD. Đặc biệt, toàn tỉnh đã thành lập mới 1.120 doanh nghiệp, tổng vốn đăng ký 13.008 tỷ đồng và 368 đơn vị trực thuộc (tăng 1% về số lượt thành lập mới, tăng 45% về số vốn so cùng kỳ)…

Theo Vietnam Logistics Review.

Vận tải đường thủy nội địa phía Bắc – xu hướng tất yếu

Hệ thống vận tải đường thủy nội địa – một hình thức vận tải tiềm năng với chi phí thấp sẽ trở thành xu hướng tất yếu trong thời gian tới, giải quyết ngay bài toán hỗ trợ vận tải đường bộ đang quá tải ở khu vực phía Bắc nói riêng và cả nước nói chung.

Thực trạng khó khăn của đường bộ

Theo thống kê của Hiệp hội Doanh nghiệp logistics Việt Nam (VLA), hiện nay có khoảng 99% sản lượng container (container hàng và container rỗng) đang được vận chuyển bằng đường bộ đi, về các cảng khu vực Hải phòng, Lạch Huyện từ các nhà máy, kho hàng tại các tỉnh, thành phía Bắc, mà trọng điểm là Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc…Kẹt xe trên Quốc lộ 5

Kẹt xe trên Quốc lộ 5

Trong khi đó, mặc dù ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 trong nước và trên thế giới, năm 2020 tốc độ tăng trưởng giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam vẫn ở mức cao, tăng 5.4% so với năm 2019; và 6 tháng đầu năm 2021, theo Tổng cục hải quan giá trị xuất nhập khẩu tăng trưởng 32,2% so với cùng kỳ năm trước. Điều này đã và đang tạo ra áp lực ngày càng lớn lên hệ thống đường bộ khu vực phía Bắc với ba trục giao thông chính là Quốc lộ 5, quốc lộ 5B và quốc lộ 18 kết nối khu vực công nghiệp trọng điểm với các cảng biển tại Hải Phòng, dẫn đến tình trạng quá tải, ùn tắc và tai nạn giao thông thường xuyên xảy ra, chi phí logistics tăng cao cho doanh nghiệp và tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng.

Đặc biệt trong thời gian vừa qua, khi dịch bệnh COVID-19 bùng phát với tâm dịch ở Hải Dương (đợt dịch thứ 3) và Bắc Ninh, Bắc Giang (đợt dịch thứ 4), việc các địa phương tăng cường kiểm soát chặt chẽ xe, người di chuyển ra vào địa phương mình đã tạo ra sự thiếu hụt về năng lực vận tải đường bộ, gây ắch tắc hàng hoá xuất nhập khẩu và đứt gãy chuỗi cung ứng.

Đường thủy nội địa và giải pháp

Trọng trách này được lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải (GTVT) tin tưởng và giao nhiệm vụ cho Cục Đường thuỷ Nội địa Việt Nam (ĐTNĐ) nghiên cứu giải pháp, cơ chế thúc đẩy dịch vụ vận tải thủy kết nối các khu vực kinh tế trong điểm với các cảng biển Khu vực Hải Phòng.Tuyến luồng kết nối Bắc Ninh - Hải Phòng

Tuyến luồng kết nối Bắc Ninh – Hải Phòng

Cục ĐTNĐ đã tích cực xúc tiến các chương trình làm việc, các chuyển khảo sát thực tế để cùng với các doanh nghiệp trong lĩnh vực khai thác cảng và vận tải sà lan container tìm giải pháp tháo gỡ và đã lựa chọn đẩy mạnh triển khai tuyến đường thuỷ nội địa kết nối từ các cảng khu vực Hải Phòng qua các sông gồm: sông Cấm – sông Kinh Thầy – sông Đuống.Sà lan Bắc kỳ từ Bắc Ninh hải hành trên sông Cấm về cảng Tân Cảng - HICT

Sà lan Bắc kỳ từ Bắc Ninh hải hành trên sông Cấm về cảng Tân Cảng – HICT

Hiện nay Công ty Bắc Kỳ đang khai thác sà lan với sức chở 2.000 DWT (tương đương 120 TEUs) lên đến cảng Tri Phương (Tiên Du, Bắc Ninh), hay Công ty Vận tải Thuỷ Tân Cảng (thuộc Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn) đang khai thác sà lan loại 1.500 DWT (tương đương 72 TEUs) lên đến ICD Tân Cảng – Quế Võ (Quế Võ, Bắc Ninh) và cảng Dabaco Tân Chi (Tiên Du, Bắc Ninh). Cũng theo kết quả khảo sát đo thực tế của ICD Tân Cảng – Quế Võ (TCT Tân Cảng Sài Gòn) thì tuyến luồng từ ICD Tân Cảng – Quế Võ (ICD TCQV) đi các cảng khu vực Hải Phòng có thể vận hành được sà lan lên đến 3.000 DWT, tương đương với sức chở 160 teu quanh năm, không phụ thuộc vào điều kiện thuỷ văn theo mùa.Sà lan Tân Cảng 18 chuẩn bị cập bến ICD Tân Cảng - Quế Võ (Sông Đuống)

Sà lan Tân Cảng 18 chuẩn bị cập bến ICD Tân Cảng – Quế Võ (Sông Đuống)

Phát huy năng lực và lợi thế của nhà khai thác cảng hàng đầu Việt Nam

Tận dụng lợi thế tự nhiên về luồng lạch, lợi thế về kết nối giao thông đường bộ (kết nối trực tiếp với quốc lộ 18 và 17), đón đầu xu hướng chuyển dịch sang sử dụng các giải pháp logistics xanh, thân thiện với môi trường và xu hướng cắt giảm chi phí logistics của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp đến từ các nước phát triển như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, từ cuối năm 2018 Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn đã cùng với doanh nghiệp địa phương tiến hành đầu tư Cảng cạn Tân Cảng – Quế Võ trên địa bàn huyện Quế Võ, Bắc Ninh với quy mô ban đầu gần 10ha bãi chứa container và 5 bến có thể đón sà lan lên đến 3.000 DWT (tương đương 160 teu), với năng lực thông qua đạt 700.000 TEUs/năm. Cảng cạn TCQV được trang bị hệ thống trang thiết bị, công nghệ điều hành và khai thác đồng bộ, hiện đại, là địa điểm làm thủ tục hải quan cho hàng hoá xuất nhập khẩu với đầy đủ chức năng như: dịch vụ depot conrtainer rỗng, dịch vụ M&R; dịch vụ vận chuyển, xếp dỡ sà lan, dịch vụ nâng hạ bãi; dịch vụ hải quan, soi chiếu, kiểm hoá; dịch vụ cảng đích…Một góc của ICD Tân Cảng - Quế Võ

Một góc của ICD Tân Cảng – Quế Võ

Cảng cạn Tân Cảng – Quế Võ hứa hẹn sẽ là điểm tập kết container (cả hàng và rỗng), điểm thông quan hàng hoá xuất nhập khẩu, cho các doanh nghiệp trên địa bàn các tỉnh thành trong khu vực, đặc biệt là Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, những tỉnh có chung cục hải quan.

Giá trị khách hàng và phát triển bền vững

Hoạt động của cảng cạn Tân Cảng – Quế Võ và các cảng sông khác như Tri Phương, Dabaco sẽ gắn liền với hoạt động vận chuyển container bằng sà lan trên tuyến đường thủy nội địa sông Cấm – sông Kinh Thầy – sông Đuống. Với lợi thế về kết nối giao thông thuận lợi cả đường thuỷ và đường bộ, sự kết hợp này đảm bảo đem lại cho các doanh nghiệp trong khu vực giải pháp logistics ổn định, bền vững, thân thiện với môi trường và xã hội. Bên cạnh đó, với việc sử dụng dịch vụ sà lan và làm thủ thụ thông quan, giao nhận hàng hoá tại cảng sông gần nhà máy còn giúp các doanh nghiệp chủ động hơn trong kế hoạch sản xuất do thời gian giao nhận ngắn hơn và giảm thiểu rủi ro đối với hàng hóa.Lợi ích tối ưu phương thức vận tải đường thủy

Lợi ích tối ưu phương thức vận tải đường thủy

Đặc biệt với năng lực vận tải lớn và những chính sách ưu đãi hợp lý, vận chuyển sà lan sẽ đem lại cho khách hàng lựa chọn hoàn hảo để từng bước cắt giảm chi phí logistic. Theo tính toán của các doanh nghiệp trong ngành, việc sử dụng dịch vụ sà lan trước mắt có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm được ít nhất 10% chi phí logistics so với đường bộ hiện nay, đây là con số ấn tượng trong bối cảnh hoạt động của các doanh nghiệp đang gặp khó khăn vì đại dịch và càng ấn tượng hơn đối với các doanh nghiệp có sản lượng vận chuyển lớn như Canon, Samsung, Vina Solar, Nitori, Ikea, Foxconn… Ngoài ra còn các chính sách khác như phí nâng hạ container thấp hơn khu vực Hải Phòng, miễn phí hoàn toàn phí lưu bãi… được các doanh nghiệp áp dụng để thu hút khách hàng.Tân Cảng - Quế Võ, cảng cạn tại tỉnh Bắc Ninh

Tân Cảng – Quế Võ, cảng cạn tại tỉnh Bắc Ninh

Tuy nhiên, để Cảng cạn Tân Cảng – Quế Võ nói riêng và các cảng trên tuyến đường thủy nội địa sông Cấm – sông Kinh Thầy – sông Đuống hoàn thành sứ mệnh hỗ trợ và giảm tải cho các tuyến giao thông đường bộ thì bên cạnh nỗ lực của các doanh nghiệp kinh doanh cảng, kinh doanh vận tải và nỗ lực thúc đẩy của Cục Đường thuỷ Nội địa Việt Nam, rất cần sự chung tay góp sức, vào cuộc mạnh mẽ, quyết liệt của các Bộ, Ngành, từ Trung ương đến các địa phương trong việc tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của lĩnh vực này phát triển, thúc đẩy công tác truyền thông ở cấp trung ương; tháo gỡ các điểm nghẽn cả về hạ tầng lẫn cơ chế, chính sách; có chế tài để địa phương miễn phí sử dụng hạ tầng cảng biển tại Hải Phòng nhằm tạo sự khác biệt đủ lớn về chi phí giữa vận tải bộ truyền thống hiện nay và vận tải sà lan (vì thực tế phương thức vận chuyển bằng sà lan không sử dụng hạ tầng do địa phương đầu tư); và cuối cùng là tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng, với môi trường và với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa trong khu vực trong việc thay đổi thói quen sử dụng từ dịch vụ đường bộ như hiện nay sang dịch vụ đường thủy.

Theo kế hoạch, Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn sẽ công bố và đưa Cảng cạn Tân Cảng – Quế Võ vào hoạt động chính thức với đầy đủ chức năng vào dịp quốc khánh 02/9/2021. Hiện nay việc xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản đã hoàn thiện, TCSG đang làm thủ tục đề nghị công bố cảng cạn (Cục Hàng hải Việt Nam và Bộ Giao thông) và để nghị thành lập địa điểm kiểm tra hàng hoá xuất nhập khẩu trong nội địa (Tổng cục Hải quan và Bộ Công thương). Việc đưa Cảng cạn Tân Cảng – Quế Võ vào hoạt động sẽ là một bước đột phá trong nỗ lực tìm kiếm giải pháp hỗ trợ cho vận tải đường bộ đang quá tải ở khu vực phía Bắc hiện nay mà Chính phủ và Bộ Giao thông đang giao Cục đường thuỷ nội địa Việt Nam chủ trì triển khai.

Theo Vietnam Logistics review.

Sản lượng hàng hóa thông qua cảng Cửa Lò ước đạt 2,35 triệu tấn

Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế vì dịch bệnh Covid – 19, sản lượng hàng hóa thông qua cảng Cửa Lò 6 tháng đầu năm 2021 ước đạt 2,350 triệu tấn, tăng 27% so với cùng kỳ.Bốc dỡ hàng hóa tại cảng Cửa Lò - Ảnh: Ngọc Anh

Bốc dỡ hàng hóa tại cảng Cửa Lò – Ảnh: Ngọc Anh

Trong số này, hàng container ước đạt hơn 130.000 tấn, tăng 13%; hàng đá đạt 44.500 tấn, tăng 54%; hàng quặng sắt đạt 50.189 tấn, gấp 12 lần; hàng phân bón các loại đạt 45.245 tấn, tăng 139% so với cùng kỳ năm 2020.

Đại diện xí nghiệp xếp dỡ Cửa Lò cho biết: Tổng sản lượng hàng hóa thông qua cảng 6 tháng đầu năm dự kiến đạt 2,350 triệu tấn, tăng 27% so với cùng kỳ. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các cảng trong khu vực, xí nghiệp quan tâm đến việc mở rộng thị trường và cơ bản thực hiện tốt các hợp đồng đã ký với khách hàng, đồng thời nâng cấp trang thiết bị phục vụ bốc xếp,…

Tuy nhiên, bên cạnh một số mặt hàng có tỷ trọng tăng trưởng ổn định thì trong một số mặt hàng như: Hàng gỗ dăm, đá, thức ăn gia súc… đều giảm. Hàng đá trắng tháng 5/2021 đạt 35.313 tấn (giảm 3,59%); thức ăn gia súc đạt 13.708 tấn (giảm 28,38% so với cùng kỳ năm 2020); gỗ dăm đạt 35.790 tấn (giảm 29,05% so với cùng kỳ năm 2020).

Theo một số doanh nghiệp thì lý do là trong thời gian qua, các doanh nghiệp nguyên liệu giấy gặp khó khăn trong công tác thu mua nguyên liệu đầu vào; Một số nguồn cung cấp nguyên liệu nay đã chuyển hướng sang cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy làm gỗ bóc. Thêm nữa, thời điểm cuối năm 2020 và đầu năm 2021, ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nên mất thời gian làm thủ tục, chi phí phát sinh… Ngoài ra, sản lượng hàng hóa đi bằng đường biển còn ảnh hưởng bởi tình trạng thiếu chỗ trên tàu và thiếu container rỗng, khiến việc xuất nhập hàng bị chậm lại.

Theo Vietnam Logistics Review

Bộ Công Thương nói gì khi nhập siêu trở lại?

Làm rõ nguyên nhân dẫn đến cán cân thương mại nghiêng về hướng nhập siêu sau 5 tháng, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải khẳng định, các mặt hàng nhập khẩu nhiều trong 5 tháng qua chủ yếu là linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu trong ngành da giày, dệt may… Đây cũng là các lĩnh vực sản xuất đang có sự phục hồi nhanh chóng khi các thị trường nhập khẩu phục hồi.

Nhập siêu chưa đáng lo

Theo Bộ Công Thương, hoạt động xuất, nhập khẩu tháng 5/2021 mặc dù chịu sự tác động bởi làn sóng thứ tư của dịch Covid-19 bùng phát trở lại khiến hoạt động xuất khẩu của của một số doanh nghiệp trong khu công nghiệp bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 5 tháng đầu năm 2021 vẫn duy trì đà tăng cao, đạt 262,73 tỷ USD, tăng 33,7% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, về xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 5/2021 đạt 26,2 tỷ USD, giảm 1,3% so với tháng trước, tăng 36,6% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 131,13 tỷ USD, tăng 30,9% so với cùng kỳ năm trước.

Về nhập khẩu, tháng 5/2021, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 28,3 tỷ USD, tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 57,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2021, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 131,6 tỷ USD, tăng 36,7% so với cùng kỳ năm trước.

Như vậy, tháng 5/2021 cả nước nhập siêu 2,07 tỷ USD. Tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu cao hơn kim ngạch xuất khẩu khiến cán cân thương mại hàng hóa 5 tháng đầu năm 2021 nhập siêu 473 triệu USD (cùng kỳ xuất siêu 3,87 tỷ USD).

Tại cuộc họp báo thường kỳ quý II của Bộ Công Thương diễn ra chiều 17/6, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải lý giải, các mặt hàng nhập khẩu nhiều trong 5 tháng qua chủ yếu là linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu trong ngành da giày, dệt may… Đây cũng là các lĩnh vực sản xuất đang có sự phục hồi nhanh chóng khi các thị trường nhập khẩu phục hồi.

“Nhiều doanh nghiệp dệt may, da giày hiện đã có đơn hàng tới hết quý III, thậm chí quý IV năm nay… nên nhập khẩu tăng là tất yếu” – Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết.

Với nhóm hàng cần kiểm soát và hạn chế nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu nhóm trong 5 tháng đầu năm đạt gần 8,5 tỷ USD, chiếm gần 4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu. Do vậy, cán cân thương mại thâm hụt không phải do gia tăng nhập khẩu các mặt hàng không được khuyến khích.

Năm 2021, mục tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 4-5% so với 2020. Thường những tháng cuối năm kim ngạch xuất khẩu hàng hoá sẽ tăng, nên cán cân thương mại hàng hoá có thể sẽ cân bằng lại vào những tháng tới. Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải khẳng định: “Nhập siêu trở lại trong tháng 5 là không đáng quan ngại và không có gì bất thường, bởi nhập siêu chủ yếu do các doanh nghiệp tăng nhập khẩu nguyên, phụ liệu phục vụ sản xuất, tới 90%”.

Tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường

Dự báo hoạt động xuất nhập khẩu sẽ tiếp tục khởi sắc trong thời gian tới khi mà các hiệp định thương mại tự do đang dần được thực thi một cách toàn diện hơn, hiệu quả hơn. Đặc biệt, các hiệp định: CPTPP, EVFTA, UKFTA…tiếp tục tạo điều kiện để hàng hóa của Việt Nam thâm nhập vào các thị trường đối tác với thuế quan ưu đãi, thông qua đó thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng mạnh trong thời gian tới. Giá hàng hóa xuất khẩu cũng đang có xu hướng tăng, nhất là các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam sẽ là động lực quan trọng để gia tăng giá trị xuất khẩu. Bên cạnh đó, ở các nước Mỹ và châu Âu đang dỡ bỏ dần hoặc hoàn toàn lệnh phong tỏa khi đã tiêm đủ số lượng vắc xin, cầu hàng hóa trên thị trường thế giới đang hồi phục trở lại, đây là cơ hội để Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông sản và công nghiệp tiêu dùng có thế mạnh.

Tuy nhiên, hoạt động xuất nhập khẩu có thể bị ảnh hưởng bởi đợt bùng phát dịch Covid-19 thứ 4 ở nhiều tỉnh, thành phố như: Thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội,… là những địa phương có quy mô kim ngạch xuất nhập khẩu đứng đầu của cả nước. Trên thế giới, châu Á tiếp tục là tâm điểm với số ca nhiễm Covid-19 mới gia tăng nhanh chóng, khiến nhiều quốc gia như Ấn Độ, Nhật Bản, Đài Loan, Indonesia hay Thái Lan phải áp đặt phong tỏa và thắt chặt các biện pháp kiểm soát nhằm hạn chế sự lây lan của dịch bệnh. Do đó, bản thân doanh nghiệp phải nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như khả năng thích ứng để vượt qua khó khăn, chủ động chuyển hướng để nắm bắt hiệu quả những cơ hội từ bối cảnh mới.

Trong thời gian tới, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết, Bộ Công Thương cho biết sẽ tiếp tục theo dõi thị trường nhập khẩu, nhất là nhóm hàng không khuyến khích, hạn chế nhập khẩu để có biện pháp kiểm soát kịp thời, cân bằng trở lại cán cân thương mại.

Bộ Công Thương cũng đưa ra các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng cam kết từ các hiệp định FTA, xúc tiến tìm kiếm thị trường xuất khẩu và tháo gỡ các rào cản thâm nhập thị trường mới.

Đặc biệt, Bộ Công Thương đang xây dựng Chiến lược Xuất nhập khẩu hàng hóa giai đoạn 2021-2030, sẽ trình Chính phủ xem xét và ban hành trong thời gian tới.

Theo Báo Công Thương

Lô vải thiều Thanh Hà đầu tiên “bay” sang châu Âu

Chiều 7/6, Công ty Cổ phần Pacific Foods đã chính thức xuất khẩu lô vải thiều Thanh Hà, Hải Dương, đầu tiên sang châu Âu bằng đường hàng không và “cập bến” cộng hoà Séc…

Lô vải thiều Thanh Hà đầu tiên xuất sang châu Âu

Lô vải thiều Thanh Hà đầu tiên xuất sang châu Âu

Trong tuần tới, tiếp theo sẽ là lô vải thiều Lục Ngạn, Bắc Giang cũng lên đường chinh phục cộng đồng 27 quốc gia khó tính này.

Tổng giám đốc Pacific Foods Chung Trí Phong cho biết việc xuất khẩu thành công vải thiều Thanh Hà của Hải Dương và Lục Ngạn tại Bắc Giang theo tiêu chuẩn Global GAP, VietGAP… vào EU đã khẳng định trái vải thiều Việt Nam luôn được khách hàng thế giới ưa chuộng. Và điều này cũng chứng minh, các doanh nghiệp trong nước ngày càng đáp ứng được nhiều yêu cầu khắt khe của các thị trường khó tính.

Để có được kết quả tích cực này, Pacific Foods mất 3 năm tìm hiểu và đàm phán các thủ tục, điều kiện kỹ thuật cho việc xuất khẩu vải sang EU. Ngay từ đầu vụ, vùng vải phục vụ xuất khẩu sang EU phải được các đối tác nhập khẩu kiểm tra hệ thống quản lí sản xuất và chấp nhận về phần mềm giám sát.

“Chúng tôi cũng liên kết với nhiều đối tác, đầu tư máy móc sơ chế, bảo quản trái vải, nhờ vậy trái vải được người tiêu dùng tại châu Âu ưa chuộng, đánh giá cao do chất lượng vượt trội, thơm ngon và an toàn”, ông Phong cho biết.

Đại diện Pacific Foods cho biết thêm, sau quả vải sẽ là mít, thanh long, gạo sẽ được đơn vị này xúc tiến xuất khẩu sang EU

Đại diện Pacific Foods cho biết thêm, sau quả vải sẽ là mít, thanh long, gạo sẽ được đơn vị này xúc tiến xuất khẩu sang EU

Vui mừng trước sự kiện này, ông Lê Bá Linh, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Facific Foods chia sẻ: muốn hàng nông sản Việt Nam vươn đi các nước, đầu tiên phải tuân thủ chất lượng sản phẩm, không dùng phân bón hoá học, trồng theo tiêu chuẩn Global GAP, VietGAP và Organic. Điều này đồng nghĩa với việc phục vụ thị trường trong nước cũng vậy. Người dân trong nước có quyền được hưởng lợi từ những sản phẩm tốt nhất, chất lượng cao không có dư lượng thuốc kháng sinh.

Đại diện Pacific Foods cho biết thêm, sau quả vải sẽ là mít, thanh long, gạo sẽ được đơn vị này xúc tiến xuất khẩu sang EU.

Ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục xúc tiến Thương mại, Bộ Công thương, cho rằng: mặc dù bị tác động bởi dịch Covid-19 nhưng Bộ Công Thương đã kết hợp với Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ ngay từ niên vụ 2021 để tìm kiếm thị trường tiêu thụ trong nước và đặc biệt là xuất khẩu.

Hiện hàng chục tấn vải thiều của 2 tỉnh Hải Dương và Bắc Giang đã có mặt trên kệ hàng tại các chuỗi siêu thị Nhật Bản, Singapore và tiếp tới là thị trường các nước EU.

EU là thị trường xuất khẩu thứ tư của rau, quả Việt Nam. Với nền tảng sẵn có này cộng thêm việc miễn giảm thuế nhập khẩu theo cam kết trong Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) đang tiếp sức, tăng khả năng cạnh tranh của trái cây Việt Nam so với các đối thủ chưa có FTA với EU như Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia…

Tỉnh Hải Dương hiện có hơn 9.000 ha vải thiều. Trong đó huyện Thanh Hà có hơn 3.300 ha, Chí Linh có hơn 3.500 ha với tổng sản lượng khoảng 55 nghìn tấn. Tỉnh hiện có 45 vùng vải với tổng diện tích 450 ha trồng theo tiêu chuẩn Global GAP; 6.300 ha trồng theo tiêu chuẩn VietGAP. Đến nay đã có 1.000 ha được cấp chứng nhận VietGAP, Global GAP và 8.000 ha được cấp mã số vùng trồng xuất khẩu.

Năm 2021, tỉnh Bắc Giang có diện tích vải thiều dự kiến đạt khoảng 28.100 ha, sản lượng dự kiến đạt 180.000 tấn. Trong đó, diện tích vải thiều sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP của tỉnh dự kiến trên 15.200 ha, theo tiêu chuẩn Global GAP là 82 ha. Vùng sản xuất để xuất khẩu sang thị trường Mỹ, Australia.. có diện tích 218 ha, sản lượng ước đạt 1.800 tấn. Vùng sản xuất vải thiều sang thị trường Nhật Bản là 219 ha, sản lượng ước đạt 1.800 tấn.

Theo Vneconomy