Cán cân thương mại 7 tháng đầu năm ước tính xuất siêu 6,5 tỷ USD

Dịch COVID-19 ngày càng lan nhanh trên thế giới, tiếp tục gây ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động xuất, nhập khẩu của Việt Nam. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 7 tháng năm 2020 ước tính đạt 285,12 tỷ USD, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 145,79 tỷ USD, tăng nhẹ 0,2%; nhập khẩu đạt 139,33 tỷ USD, giảm 2,9%

Xuất khẩu tăng trong 7 tháng đầu năm 2020

Xuất khẩu tăng trong 7 tháng đầu năm 2020

Khu vực kinh tế trong nước là điểm sáng trong hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam khi kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu 7 tháng đều tăng so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu đạt 50,76 tỷ USD, tăng cao 13,5%; nhập khẩu đạt 61,86 tỷ USD, tăng 1,5%. Cán cân thương mại hàng hóa 7 tháng ước tính xuất siêu 6,5 tỷ USD.

Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện tháng 6/2020 đạt 22.565 triệu USD, cao hơn 1.565 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 448 triệu USD; hàng dệt may cao hơn 402 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 197 triệu USD; sắt thép cao hơn 137 triệu USD; đá quý, kim loại quý và sản phẩm cao hơn 108 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 107 triệu USD.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 7/2020 ước tính đạt 23 tỷ USD, tăng 1,9% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 8,5 tỷ USD, tăng 2,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 14,5 tỷ USD, tăng 1,5%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu tháng 7/2020 tăng nhẹ 0,3%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 10,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) giảm 4,9%.

Tính chung 7 tháng năm 2020, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 145,79 tỷ USD, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước tiếp tục là điểm sáng với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 50,76 tỷ USD, tăng 13,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 95,03 tỷ USD (chiếm 65,2% tổng kim ngạch xuất khẩu), giảm 5,7%.

Trong 7 tháng có 23 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 87% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó: Điện thoại và linh kiện đạt 25,7 tỷ USD, giảm 6,6% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 23,1 tỷ USD, tăng 24,3%; hàng dệt may đạt 16,2 tỷ USD, giảm 12,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 12,4 tỷ USD, tăng 27,1%; giày dép đạt 9,5 tỷ USD, giảm 7,9%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 6,1 tỷ USD, tăng 6,2%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 4,4 tỷ USD, giảm 12,3%; thủy sản đạt 4,4 tỷ USD, giảm 6,4%; sắt thép đạt 2,5 tỷ USD, giảm 2,7%. Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu của đa số các mặt hàng nông sản đều giảm so với cùng kỳ năm trước: Rau quả đạt 2 tỷ USD, giảm 12,3%; cà phê đạt 1,8 tỷ USD, giảm 0,5% (lượng giảm 0,1%); hạt điều đạt 1,7 tỷ USD, giảm 4% (lượng tăng 10,4%); cao su đạt 855 triệu USD, giảm 20,3% (lượng giảm 15,1%); hạt tiêu đạt 405 triệu USD, giảm 20,6% (lượng giảm 6,5%). Duy nhất sản phẩm gạo đạt 1,9 tỷ USD, tăng 10,9% (lượng giảm 1,4%).

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 7 tháng, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 76,5 tỷ USD, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 52,5% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa (tăng 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2019). Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp ước tính đạt 53,3 tỷ USD, giảm 1,6% và chiếm 36,6% (giảm 0,7 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 11,6 tỷ USD, giảm 3,7% và chiếm 8% (giảm 0,3 điểm phần trăm). Nhóm hàng thủy sản đạt 4,4 tỷ USD, giảm 6,4% và chiếm 3% (giảm 0,2 điểm phần trăm).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng với kim ngạch đạt 37,9 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là Trung Quốc đạt 23,5 tỷ USD, tăng 18,4%. Thị trường EU đạt 19,5 tỷ USD, giảm 5,9%. Thị trường ASEAN đạt 12,8 tỷ USD, giảm 15,4%. Nhật Bản đạt 10,9 tỷ USD, giảm 5%. Hàn Quốc đạt 10,7 tỷ USD, giảm 0,4%.

Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa thực hiện tháng 6/2020 đạt 20.713 triệu USD, cao hơn 213 triệu USD so với số ước tính, trong đó thức ăn gia súc cao hơn 160 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 137 triệu USD; điện thoại và linh kiện thấp hơn 62 triệu USD.Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 7/2020 ước tính đạt 22 tỷ USD, tăng 6,2% so với tháng trước

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 7/2020 ước tính đạt 22 tỷ USD, tăng 6,2% so với tháng trước

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 7/2020 ước tính đạt 22 tỷ USD, tăng 6,2% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 10,2 tỷ USD, tăng 5,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 11,8 tỷ USD, tăng 6,5%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu tháng 7/2020 ước tính giảm 2,9%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 8,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 10,9%.

Tính chung 7 tháng năm 2020, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 139,33 tỷ USD, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 61,86 tỷ USD, tăng 1,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 77,47 tỷ USD, giảm 6,2%.

Trong 7 tháng có 25 mặt hàng đạt kim ngạch nhập khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 83,6% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 32,6 tỷ USD (chiếm 23,4% tổng kim ngạch nhập khẩu), tăng 14% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 19,9 tỷ USD, giảm 4%; điện thoại và linh kiện đạt 7,1 tỷ USD, giảm 2,4%; vải đạt 6,6 tỷ USD, giảm 14,9%; sắt thép đạt 4,8 tỷ USD, giảm 14,1%; chất dẻo đạt 4,6 tỷ USD, giảm 12,4%; sản phẩm chất dẻo đạt 3,9 tỷ USD, tăng 5,8%; kim loại thường đạt 3,2 tỷ USD, giảm 12,8%; sản phẩm hóa chất đạt 3,1 tỷ USD, tăng 2,8%; ô tô đạt 2,9 tỷ USD, giảm 32,6%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 2,9 tỷ USD, giảm 15,5%.

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu 7 tháng, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 130,25 tỷ USD, giảm 2,6% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 93,5% tổng kim ngạch nhập khẩu; nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 9,08 tỷ USD, giảm 7,3% và chiếm 6,5%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu trong 7 tháng, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước tính đạt 41,6 tỷ USD, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc đạt 24,3 tỷ USD, giảm 9,2%; ASEAN đạt 16,7 tỷ USD, giảm 11,3%; Nhật Bản đạt 11,2 tỷ USD, tăng 5,1%; Hoa Kỳ đạt 8,3 tỷ USD, tăng 2,5%; EU đạt 8,3 tỷ USD, tăng 6%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng 6/2020 xuất siêu 1,9 tỷ USD; 6 tháng xuất siêu 5,5 tỷ USD; tháng Bảy ước tính xuất siêu 1 tỷ USD. Tính chung 7 tháng năm 2020, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 6,5 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 11,1 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 17,6 tỷ USD.

Theo: Thương trường

COVID-19: Cú hích lớn cho mua sắm trực tuyến

Trong giai đoạn 2016 – 2020, thị trường thương mại điện tử tại Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng tích cực lên tới 30% mỗi năm, theo số liệu của Bộ Công thương. Việt Nam đang phấn đấu để đạt tới con số 55% dân số tham gia hoạt động mua sắm trực tuyến và doanh thu từ hoạt động thương mại điện tử đạt 35 tỷ USD vào năm 2025, theo kế hoạch tổng thể vừa được phê duyệt hồi đầu năm.

Đại dịch được coi là cú hích giúp đẩy nhanh sự thay đổi trong hành vi của người tiêu dùng, với một lượng lớn người dùng chuyển sang hình thức mua bán trực tuyến

Đại dịch được coi là cú hích giúp đẩy nhanh sự thay đổi trong hành vi của người tiêu dùng, với một lượng lớn người dùng chuyển sang hình thức mua bán trực tuyến

Ngụ tại quận Long Biên, Hà Nội, bà Võ Thị Thu, 71 tuổi vừa trải nghiệm lần mua sắm trực tuyến lần đầu tiên trong đời. Với sự giúp đỡ của con gái, bà đã đặt mua một chiếc máy làm mì sợi trên mạng.

“Tôi đã rất háo hức chờ đợi món hàng đầu tiên của mình được chuyển đến. Lẽ ra tôi nên mua sắm trực tuyến từ sớm hơn, việc này thật tiện lợi”, bà chia sẻ.

Khác với bà Thu, chị Phạm Thị Hoa, 28 tuổi, đã quen với việc mua hàng online. Tuy nhiên, thay vì chỉ hướng đến các mặt hàng mỹ phẩm như trước đây, chị bắt đầu đặt thêm các loại thực phẩm tươi sống.

“Tôi không cần phải đến tận các cửa hàng để sắm nhu yếu phẩm nữa”, chị chia sẻ với vẻ hài lòng bởi đã có nhiều thời gian hơn để làm việc nhà vào mỗi cuối tuần.

Chị Hoa đã quyết định mua sắm các loại thực phẩm tươi như trứng, cá, rau và trái cây thông qua các ứng dụng trực tuyến lần đầu tiên vào đầu tháng 3, thời điểm xã hội đang phải thực hiện giãn cách bởi dịch bệnh. Trước đó, chị chỉ tin dùng sử dụng các loại thực phẩm được tự tay chọn lựa vì sự an toàn và chất lượng.

“Nhưng chỉ sau vài lần thử nghiệm, tôi rất hài lòng vì chất lượng hàng hóa đã đáp ứng được tới 90% so với kỳ vọng”, chị nhận xét.

Chị Hoa và bà Thu chỉ là vài ví dụ trong số hàng ngàn người tiêu dùng tại Việt Nam đã có những thay đổi trong hành vi mua sắm thường ngày của mình. Các chỉ thị giãn cách xã hội để phòng chống dịch bệnh được ban hành vào tháng 3 và tháng 4 đã đem tới nhiều thách thức buộc các doanh nghiệp phải tự điều chỉnh kế hoạch kinh doanh và phân phối để thích nghi với tình hình mới.

Đại dịch được coi là cú hích giúp đẩy nhanh sự thay đổi trong hành vi của người tiêu dùng, với một lượng lớn người dùng chuyển sang hình thức mua bán trực tuyến.

Một cuộc khảo sát gần đây của công ty nghiên cứu thị trường Ipsos đã cho thấy rằng người tiêu dùng Việt Nam đã gặp phải nhiều hạn chế trong việc mua sắm tại các siêu thị, cửa hàng truyền thống. Khoảng 30% số người tham gia khảo sát cho biết họ cũng ít mua sắm thường xuyên hơn tại các siêu thị, trong khi đó lại ưu tiên các nền tảng thương mại điện tử hoặc dịch vụ giao đồ ăn tại nhà.

Theo Tổng cục Thống kê, mua sắm trực tuyến đã trở nên ngày một phổ biến trong nửa đầu năm 2020. Bất chấp tác động của dịch Covid-19 tới nền kinh tế, doanh thu bán lẻ của các doanh nghiệp trên cả nước đã tăng 3,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó mặt hàng thực phẩm và các đồ dùng liên quan có mức tăng cao nhất, lên tới 7%.

Nhận thấy xu hướng mới trong hành vi của người tiêu dùng, nhiều thương hiệu bán lẻ đã nhanh chóng điều chỉnh mô hình kinh doanh của mình. Họ tập trung nhiều hơn ở các kênh bán hàng trực tuyến và tìm hiểu thêm những chiến lược mới để tiếp cận và thu hút thêm khách hàng.

Nhiều siêu thị đã tiến hành cung cấp thêm các dịch vụ phục mua sắm trực tuyến, đặc biệt là qua các ứng dụng điện thoại. Các nền tảng thương mại điện tử như Shopee, Lazada hay Tiki đã triển khai các chiến dịch quảng cáo, khuyến mãi thường xuyên hơn.

Về phía các công ty công nghệ, nhiều giải pháp mới đã được giới thiệu để kịp đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Ví dụ như Grab đã giới thiệu một dịch vụ mới có tên “Trợ lý Grab”. Dịch vụ này sẽ giúp kết nối khách hàng với một tài xế ở gần đó trong việc hỗ trợ họ mua sắm tại các cửa hàng tiện lợi. Sau đó hàng hóa theo yêu cầu sẽ được giao tới khách hàng trong khoảng một giờ đồng hồ.

Covid-19 không chỉ là một dịp “thử nghiệm” mà còn là động lực lớn giúp các hoạt động thương mại điện tử nở rộ và phát triển.

Theo trích dẫn từ số liệu thống kê, ông Nguyễn Ngọc Dũng, Phó chủ tịch Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), cho biết số lượng người tham gia mua sắm trực tuyến lần đầu tăng khoảng 40% trong thời gian diễn ra đại dịch. Ông cũng đưa ra dự báo rằng quy mô thị trường sẽ mở rộng lên khoảng 13 đến 15 tỷ USD trong năm nay.

Nhiều doanh nghiệp bày tỏ sự lạc quan về triển vọng phát triển quy mô của thị trường, cũng như sự tin tưởng từ phía khách hàng. Hầu hết trong số đó sẽ cố gắng duy trì việc làm cho đội ngũ nhân viên và rất có thể mở nhiều đợt tuyển dụng hơn trong nửa cuối năm 2020, một khảo sát gần đây của VECOM cho biết thêm.

Theo: Trí thức trẻ

Xuất khẩu nông sản quyết “về đích” 41 tỷ USD bất chấp COVID-19

Xuất siêu gần 5,2 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm, toàn ngành nông, lâm, thủy sản quyết đạt mục tiêu trị giá xuất khẩu 41 tỷ USD trong cả năm nay.

Xuất khẩu nông sản quyết về đích 41 tỷ USD

Xuất khẩu nông sản quyết về đích 41 tỷ USD

Theo thông tin mà Bộ NN&PTNT vừa phát đi chiều tối nay, 27/7, 7 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng nông, lâm, thủy sản ước đạt gần 39,5 tỷ USD.

Trong đó, xuất khẩu ước đạt 22,3 tỷ USD, giảm 2,8% so với cùng kỳ năm 2019; nhập khẩu ước đạt 17,2 tỷ USD, giảm 4,6% so với cùng kỳ năm 2019; xuất siêu gần 5,2 tỷ USD, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2019.

Riêng về xuất khẩu, trong tổng số 22,3 tỷ USD, nhóm nông sản chính ước đạt 10,4 tỷ USD, giảm 4,0%; chăn nuôi ước đạt 213 triệu USD, giảm 24,9%; thủy sản ước đạt 4,4 tỷ USD, giảm 6,4%; lâm sản chính đạt 6,5 tỷ USD, tăng 6,7%.

Đại diện Bộ NN&PTNT nhận định, những tháng cuối năm tình hình thế giới, khu vực sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Cụ thể như, bất ổn liên quan dịch Covid-19, chính sách thương mại, căng thẳng địa chính trị tại một số khu vực; xu hướng bảo hộ sản xuất trong nước.

Bên cạnh đó, nhiều thị trường nhập khẩu nông sản siết chặt hơn nữa hàng rào kỹ thuật và các biện pháp tự vệ thương mại, yêu cầu mới về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, cấp chứng thư xuất khẩu, đẩy mạnh chính ngạch, thanh kiểm tra chất lượng tại nước xuất khẩu…

Tuy vậy, Bộ NN&PTNT nhận định thời gian tới, việc thực thi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) cũng sẽ mở ra cơ hội, triển vọng thị trường lớn cho hàng nông sản Việt Nam.

Trên cơ sở phân tích như trên, Bộ NN&PTNT dự kiến phương án tăng trưởng toàn ngành phấn đấu đạt 2,6 – 3%; phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2020 khoảng 41 tỷ USD.

Trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn phân tích: “Nếu tình hình diễn biến thị trường tiến triển tốt, vẫn như thời điểm nửa cuối tháng 6 đến nay thì ngành nông nghiệp vẫn có thể đạt được kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 41 tỷ USD cả năm. Ngược lại, nếu xảy ra tình trạng dịch Covid-19 bùng phát trở lại nghiêm trọng, các thị trường đóng cửa thì rất khó đoán định”.

Để đạt được tăng trưởng toàn ngành cũng như mục tiêu xuất khẩu 41 tỷ USD trong năm nay, lãnh đạo Bộ NN&PTNT nhấn mạnh, giải pháp cụ thể đặt ra là tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại ngành, nâng cao năng suất, chất lượng hàng nông sản và hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Theo đó tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp để cơ cấu lại ngành nông nghiệp một cách thiết thực, hiệu quả hơn, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và xây dựng nông thôn mới, theo 3 trục sản phẩm (nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia; nhóm sản phẩm chủ lực cấp tỉnh; nhóm sản phẩm chủ lực địa phương theo mô hình “Mỗi xã một sản phẩm”).

Ngoài ra, Bộ NN&PTNT xác định đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu; mở rộng thị trường xuất khẩu chính ngạch các sản phẩm chủ lực; tích cực đàm phán mở cửa thị trường xuất khẩu, giữ ổn định các thị trường truyền thống, tìm kiếm và mở rộng các thị trường tiềm năng; hạn chế thấp nhất sự phụ thuộc vào một số thị trường nhất định.

“Bên cạnh đó, giải pháp quan trọng còn là triển khai tích cực, khai thác hiệu quả cơ hội của các FTA đem lại, tăng cường các hoạt động phát triển thị trường; chuẩn bị tốt các điều kiện để đẩy mạnh xuất khẩu khi EVFTA có hiệu lực…”, Thứ trưởng Hà Công Tuấn nói.

Tính đến giữa tháng 7/2020, cả nước gieo cấy được 6,4 triệu ha lúa, giảm 182 nghìn ha so với cùng kỳ năm 2019.

Về chăn nuôi, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tháng 7/2020, tổng đàn lợn giảm 3,0% so với cùng kỳ; đàn gia cầm tăng 5,5%; đàn bò tăng 3,0%.

Về lâm nghiệp, tính chung 7 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng mới của cả nước ước đạt 119,0 nghìn ha, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 8.985,0 nghìn m3, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước; diện tích rừng bị thiệt hại là 1.647,2 ha, giảm 5,6% so với cùng kỳ năm trước.

Về thủy sản, lũy kế 7 tháng đầu năm, tổng sản lượng ước đạt gần 4,65 triệu tấn, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước.

Theo: Báo Hải quan

Hàng hóa qua cảng biển duy trì đà tăng, bất chấp COVID-19

Lượng hàng hóa thông qua cảng biển Việt Nam vẫn giữ được đà tăng trưởng trong bối cảnh hoạt động hàng hải đang chịu tác động của dịch COVID-19.

Hàng hóa qua cảng biển Việt Nam vẫn duy trì sự tăng trưởng tốt dù dịch Covid-19 vẫn đang có sự tác động mạnh mẽ vào hoạt động hàng hải nói chung - Ảnh minh họa

Hàng hóa qua cảng biển Việt Nam vẫn duy trì sự tăng trưởng tốt dù dịch Covid-19 vẫn đang có sự tác động mạnh mẽ vào hoạt động hàng hải nói chung – Ảnh minh họa

Đại diện Cục Hàng hải VN cho biết, theo thống kê, 7 tháng đầu năm 2020, tổng sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển Việt Nam đạt hơn 397,5 triệu tấn, trong đó, lượng hàng container thông qua cảng đạt hơn 11,8 triệu Teus, tăng lần lượt 6% và 8% so với cùng kỳ năm 2019.

Riêng tháng 7/2020, khối lượng hàng hóa thông qua cảng ước đạt gần 57,8 triệu Teus, tăng 1%, trong đó, hàng container đạt hơn 1,68 triệu Teus, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước.

“Khối lượng hàng hóa thông qua cảng biển trong 7 tháng đầu năm tăng 6% so với cùng kỳ năm 2019 là mức tăng trưởng tốt trong những tháng gần đây, dù hoạt động hàng hải chưa thoát khỏi ảnh hưởng của dịch Covid-19”, đại diện Cục Hàng hải khẳng định.

Trước đó, thống kê trong 6 tháng đầu năm của Cục Hàng hải VN, dù hoạt động hàng hải vẫn chưa thoát khỏi ảnh hưởng của dịch Covid-19, song, sản lượng hàng hóa qua một số khu vực cảng biển vẫn đạt mức tăng trưởng hai con số như: cảng biển Quảng Trị tăng hơn 72% do mới phát sinh hàng xuất khẩu gỗ dăm sang Trung Quốc và hàng cát, thạch cao chở ra Ninh Bình; khu vực Quảng Ngãi tăng 44% do nhập khẩu mặt hàng khô, tổng hợp tăng mức kỷ lục hơn 1.300%.

Ngoài ra, một số khu vực cảng biển như: Nam Định, Cần Thơ, Thanh Hóa, Thái Bình cũng có mức tăng tương đối cao, từ 20 – 28% so với cùng kỳ năm 2019.

Bên cạnh đó, một số khu vực cảng biển có mức tăng hàng hóa container mạnh như: khu vực Mỹ Tho tăng 354%, Thanh Hóa tăng 115%, An Giang tăng 85%, Đà Nẵng tăng 11%,…

Theo: Báo Giao thông

Khởi động làn sóng cải cách mới để “đón đại bàng về làm tổ”

Ưu đãi về thuế quan hay đất đai là chưa đủ để đón làn sóng chuyển dịch đầu tư. Làn sóng dịch chuyển đầu tư khỏi Trung Quốc diễn ra kể từ khi quan hệ thương mại Mỹ – Trung trở nên căng thẳng từ năm 2018. Đại dịch COVID-19 xuất hiện khiến xu hướng này càng bộc lộ rõ nét hơn.

Ưu đãi về thuế quan hay đất đai là chưa đủ để đón làn sóng chuyển dịch đầu tư

Ưu đãi về thuế quan hay đất đai là chưa đủ để đón làn sóng chuyển dịch đầu tư

Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, kể từ tháng 8/2019 đến nay, Ấn Độ và Indonesia đã đẩy mạnh việc thu hút các tập đoàn quốc tế đang có kế hoạch dịch chuyển khỏi Trung Quốc.

Đến nay, đã có nhiều thông tin về việc các nhà đầu tư có kế hoạch dịch chuyển đầu tư tới Ấn Độ và các nước khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.

Tuy nhiên, quá trình dịch chuyển sẽ không ngay lập tức, mà thường có lộ trình khoảng 2 – 5 năm, do các chuỗi cung ứng toàn cầu đã được hoàn thiện nên không thể nhanh chóng chuyển dịch.

Qua nghiên cứu các công bố chính sách thu hút FDI gần đây của một số nước trong khu vực; có thể thấy chính phủ các nước đang chủ yếu dùng 5 công cụ, gồm: thuế, đất đai, cải thiện môi trường kinh doanh, cung cấp gói hỗ trợ đào tạo công nhân lành nghề và có biện pháp tăng rào cản nhằm ngăn chặn tình trạng thâu tóm trong một số lĩnh vực…

Điển hình như Indonesia có kế hoạch giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 25% về mức 23% năm 2021 hay cam kết dành 400 ha cho các nhà đầu tư. Ấn Độ cũng miễn thuế từ 4-10 năm cho các dự án đầu tư trong 1 số lĩnh vực ưu tiên và cam kết dành ra quỹ đất rộng 461 ha nhằm thu hút doanh nghiệp rời khỏi Trung Quốc.

Tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định thành lập Tổ công tác thúc đẩy hợp tác đầu tư nước ngoài. Theo đó, Phó thủ tướng Phạm Bình Minh nhận nhiệm vụ Tổ trưởng. Tổ phó thường trực là Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, còn tổ phó là Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Có thể thấy, Chính phủ đã quyết liệt hơn trong việc đón đầu làn sóng chuyển dịch đầu tư, “đón đại bàng về làm tổ”.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, bên cạnh việc đưa ra những ưu đãi về thuế hay đất đai, việc cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia cũng là một trong những nội dung cần chú trọng nếu muốn đón làn sóng chuyển dịch này.

Khởi động “làn sóng” cải cách lần thứ 3

Theo TS. Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI), cải cách thủ tục hành chính và cải thiện môi trường kinh doanh là đặc biệt cần thiết trong giai đoạn hiện nay, nếu muốn tận dụng làn sóng chuyển dịch dòng vốn đầu tư.

TS. Lộc nhìn lại, kể từ đầu nhiệm kỳ của Chính phủ, đã có 2 “đợt sóng” cải cách rất quan trọng.

Năm 2016, đã có một đợt rà soát tổng thể các điều kiện kinh doanh và cắt giảm hàng loạt điều kiện kinh doanh.

“Việc cắt giảm này nhằm thực hiện đúng theo quy định của Luật đầu tư: Chỉ những lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, chính phủ mới được hướng dẫn thi hành trong nghị định của Chính phủ chứ không có giấy phép con”, ông Lộc nhấn mạnh.

Có thể nói, đây là “đợt sóng” cải cách đầu tiên về điều kiện kinh doanh và cải cách hành chính của nhiệm kỳ này.

Năm 2018, Việt Nam có đợt sóng cải cách thứ 2 khi Chính phủ áp đặt một mệnh lệnh bắt buộc các bộ, ngành phải trình phương án cắt giảm 50% các điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính.

Mặc dù, mức cắt giảm và tác động thực tế là thấp hơn, có thể là 30-40% nhưng dù sao đây cũng là một “đợt sóng” cải cách có ý nghĩa.

Đến năm nay, thực sự cần thiết phải tiến hành một “đợt sóng” cải cách mới trong bối cảnh Việt Nam đang ra sức thu hút đầu tư và là một trong những điểm đến của xu hướng dịch chuyển đầu tư.

VCCI đã phát hiện ít nhất 25 điểm còn chồng chéo giữa các văn bản pháp luật và kiến nghị với Chính phủ và Quốc hội chương trình tổng thể để xoá bỏ những điểm còn chồng chéo và bất hợp lý trong các văn bản pháp luật.

TS. Lộc cho biết, những kiến nghị từ VCCI đã được Chính phủ ghi nhận và thành lập một tổ công tác để rà soát những điểm chồng chéo, bất hợp lý của các văn bản pháp luật. Hy vọng với hoạt động từ 14 nhóm công tác trong tổ công tác, sẽ có hàng loạt kiến nghị sửa đổi những điểm bất hợp lý trình lên Quốc hội.

“Và nếu sửa đổi được những điểm này, chúng ta sẽ có cơn sóng cải cách mới về thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh ở Việt Nam”, ông Lộc kỳ vọng.

Theo: Bizlive

Nửa đầu năm, cả nước xuất siêu 4 tỷ USD

Cả nước vẫn xuất siêu 4 tỷ USD, dù hoạt động xuất nhập khẩu vẫn gặp nhiều khó khăn trong nửa đầu năm. Dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp trên thế giới, đặc biệt tại các nước đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam đã ảnh hưởng lớn đến kim ngạch xuất, nhập khẩu của nhiều mặt hàng.

Xuất siêu 4 tỷ USD trong nửa đầu năm

Xuất siêu 4 tỷ USD trong nửa đầu năm

Theo Tổng cục Thống kê, 6 tháng đầu năm 2020, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 238,4 tỷ USD, giảm 2,1% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 121,21 tỷ USD, giảm1,1% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước đạt 41,38 tỷ USD, tăng 11,7%, chiếm 34,1% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 79,83 tỷ USD, giảm 6,7%, chiếm 65,9%.

Trong 6 tháng đầu năm Việt Nam có 22 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 86,2% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đặc biệt, có 4 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 52,7% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Ở chiều nhập khẩu khẩu, trong 6 tháng, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 117,17 tỷ USD, giảm 3% so với cùng kỳ năm trước. Việt Nam cũng có 22 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 81,2% tổng kim ngạch nhập khẩu.

Đáng chú ý, Tổng cục Thống kê cho biết, tỷ giá thương mại hàng hóa bình quân 6 tháng đầu năm 2020 giảm 0,78% so với cùng kỳ năm 2019 phản ánh giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra nước ngoài không thuận lợi so với giá nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài về Việt Nam.

Dù có một số chỉ số tích cực, song hoạt động ngoại thương của Việt Nam nhìn chung vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19 trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là tại các đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam như EU, Mỹ, Nhật Bản, ASEAN…

Liên quan tới vấn đề xuất khẩu hàng hóa từ đầu năm đến nay, theo kết quả khảo sát gần 130 nghìn doanh nghiệp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, về thị trường tiêu thụ và xuất khẩu, 57,7% số doanh nghiệp bị ảnh hưởng cho biết thị trường tiêu thụ bị giảm mạnh; 47,2% doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu khẳng định hàng hóa sản xuất ra không xuất khẩu được.

Thời gian tới, Bộ Công Thương dự báo, hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn trong ngắn hạn. Việt Nam mặc dù đã thành công trong cuộc chiến chống Covid-19, nhưng việc thu hút đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu lại phụ thuộc lớn vào yếu tố bên ngoài.

Trong khi đó, dịch Covid-19 trên thế giới vẫn đang có những diễn biến phức tạp và ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh tế toàn cầu, quá trình hồi phục sẽ mất nhiều thời gian.

Trong quý II, khi dịch bệnh cơ bản được kiểm soát ở một số quốc gia, kim ngạch xuất khẩu được kỳ vọng sẽ có mức tăng trưởng khả quan hơn. Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhận định, khi đã suy giảm trong những tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa được kỳ vọng sẽ như chiếc lò xo bị nén, bật tăng lên trong những tháng tới. Tuy không ở mức quá cao, song ít nhiều cũng bù đắp phần nào mức giảm những tháng vừa qua, tiệm cận dần mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu đã đề ra từ đầu năm.

Theo: Báo Công Thương

TP. HCM: Có 5 nhóm hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD

5 nhóm hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm đến trên 80% kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của TPHCM.

Nhiều nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng cao

Nhiều nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng cao

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp thành phố xuất qua các cảng thành phố (kể cả dầu thô) 6 tháng năm 2020 ước đạt 19.087,6 triệu USD, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước đạt 1.203,6 triệu USD, giảm 23,3%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt 5.239,3 triệu USD, giảm 6,4%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 12.644,7 triệu USD, tăng 15,7%.

Điểm nhấn đáng chú ý, trong 6 tháng có 5 nhóm hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 82,5% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Trong đó, đứng đầu là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 8,2 tỷ USD, chiếm 42,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 34,1% so với cùng kỳ năm trước;

Kế đến là nhóm hàng hoá khác đạt 3,3 tỷ USD, chiếm 17,1%, giảm 12,5%; thứ 3 là hàng dệt may đạt 2,1 tỷ USD, chiếm 11,2%, giảm 20,1%; thứ 4 là nhóm hàng giày dép đạt 1,1 tỷ USD, chiếm 5,9%, giảm 8,4%; thứ 5 là máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 1,03 tỷ USD, chiếm 5,4%, tăng 0,8%.

Thị trường xuất khẩu hàng hoá chủ lực của các doanh nghiệp xuất khẩu qua các cảng thành phố vẫn là Trung Quốc (đạt 5.092,3 triệu USD, chiếm 26,7% tỷ trọng xuất khẩu, tăng 40,7% so với cùng kỳ năm trước), Hoa Kỳ (đạt 3.182,5 triệu USD, chiếm 16,7%, tăng 2,8%), Nhật Bản (đạt 1.466,7 triệu USD, chiếm 7,7%, giảm 7,7%).

Theo: Báo Hải Quan

Đẩy mạnh tiêu thụ nội địa các sản phẩm cá tra

Sự kiện “Kết nối sản xuất – tiêu thụ nội địa các sản phẩm cá tra” trong khuôn khổ Phiên chợ các sản phẩm thủy sản năm 2020″ giúp đẩy mạnh tiêu thụ nội địa.

Sản phẩm cá tra đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam

Sản phẩm cá tra đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam

Theo Tổng Cục thuỷ sản (Bộ NN-PTNT), trong những tháng đầu năm 2020, hoạt động sản xuất, chế biến, xuất khẩu cá tra có xu hướng giảm sút do tác động kép của đại dịch cúm COVID-19 và hạn hán xâm nhập mặn.

Cùng với đó, sự phụ thuộc vào xuất khẩu đã khiến ngành hàng cá tra gặp nhiều khó khăn khi các đơn hàng bị đối tác hủy hoặc hoãn giao hàng do lệnh giãn cách xã hội ở hầu hết các quốc gia nhập khẩu. Kim ngạch xuất khẩu cá tra ở các thị trường EU, ASEAN, Trung Quốc, Hoa Kỳ… đều sụt giảm.

Các doanh nghiệp sẽ trưng bày và giới thiệu sản phẩm cá tra bên lề sự kiện “Kết nối sản xuất – tiêu thụ nội địa các sản phẩm cá tra” vào chiều ngày 09/6. Trước tình hình này, từ ngày 09/6 – 12/6 tại Hà Nội, Tổng cục Thủy sản phối hợp với Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp và một số đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ tổ chức sự kiện “Kết nối sản xuất – tiêu thụ nội địa các sản phẩm cá tra” trong khuôn khổ Phiên chợ các sản phẩm thủy sản năm 2020.

Theo ông Trần Đình Luân – Tổng cục trưởng Tổng cục Thuỷ sản: “Cá tra là sản phẩm thuỷ sản chủ lực của Việt Nam xuất khẩu đi hơn 120 nước trên thế giới với gần 100 sản phẩm. Trong khi đó, người tiêu dùng trong nước lại chưa có nhiều cơ hội thưởng thức các món ăn được chế biến từ cá tra. Khó khăn từ đại dịch COVID-19 cũng là cơ hội để cơ cấu lại thị trường trong nước – xuất khẩu với các sản phẩm cá tra nói riêng và sản phẩm thuỷ sản nói chung. Sự kiện “Kết nối sản xuất – tiêu thụ nội địa các sản phẩm cá tra” cũng là dịp để kết nối các doanh nghiệp sản xuất với các tập đoàn phân phối, tiêu thụ sản phẩm nhằm góp phần tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ và phát triển bền vững ngành hàng cá tra”.

Được biết, lần đầu tiên, trong khuôn khổ sự kiện diễn ra lễ ký kết hợp tác tiêu thụ sản phẩm giữa các DN cá tra với các tập đoàn bán lẻ lớn của Việt Nam và các khu công nghiệp.

Trước đó, tại Hội nghị ngành hàng cá tra diễn ra tại tỉnh An Giang ngày 07/5, Bộ trưởng NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường đã có chỉ đạo về việc thúc đẩy phát triển tiêu thụ nội địa đối với sản phẩm cá tra, tháo gỡ khó khăn cho ngành hàng này.

Theo VOV

Đề xuất tăng giá dịch vụ bốc dỡ tại cảng biển

Cục Hàng hải Việt Nam kiến nghị tiếp tục tăng giá tác nghiệp từ tàu (sà lan) – ô tô và ngược lại để đảm bảo quyền lợi cho doanh nghiệp cảng.

Đề xuất cân bằng giá dịch vụ giữa các tác nghiệp bốc dỡ sẽ đảm bảo được quyền lợi cho doanh nghiệp cảng Việt Nam - Ảnh minh họa

Đề xuất cân bằng giá dịch vụ giữa các tác nghiệp bốc dỡ sẽ đảm bảo được quyền lợi cho doanh nghiệp cảng Việt Nam – Ảnh minh họa

Tại tờ trình dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư số 54/2018 của Bộ GTVT ban hành biểu khung giá dịch vụ hoa tiêu, dịch vụ sử dụng cầu, bến, phao neo, dịch vụ bốc dỡ container và dịch vụ lai dắt tại cảng biển Việt Nam, Cục Hàng hải Việt Nam vừa đề xuất tiếp tục tăng giá tác nghiệp bốc dỡ tại cảng biển.

Cục Hàng hải VN cho biết, Thông tư 54/2018 đã điều chỉnh tăng giá dịch vụ của tác nghiệp tàu (sà lan) – ô tô (shipside) bằng 80% so với mức giá tác nghiệp tàu (sà lan) – bãi cảng (CY). Hiện nay, tất cả các hãng container trên thế giới không sử dụng dịch vụ shipside, kể cả các cảng khu vực 2 và 3 của Việt Nam. Dịch vụ shipside trước đây chỉ tồn tại ở một số cảng khu vực Hải Phòng không đủ bãi nên phải đưa một phần hàng hóa ra tập kết ở bãi ngoài.

“Trước đề xuất của các doanh nghiệp cảng khu vực 1, Thông tư lần này kiến nghị điều chỉnh tăng mức giá tối thiểu dịch vụ bốc dỡ container khu vực 1. Do vậy, giá tổi thiểu dịch vụ shipside cũng điều chỉnh tăng lên tương ứng 10%, từ 26 USD lên 29 USD/cont’20 (có hàng), 40 USD lên 44 USD/cont’40, từ 46 USD lên 51 USD/container trên 40 feet”, tờ trình nêu.

Trao đổi với Báo Giao thông, ông Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc Cảng Nam Hải Đình Vũ (Hải Phòng) cho rằng, thực tế, tác nghiệp bốc dỡ giữa tàu đến bãi cảng hay ô tô đều được tiến hành với quy trình, trang thiết bị như nhau. Việc quy định khung giá shipside quá thấp sẽ tạo điều kiện cho hãng tàu ép cảng lựa chọn dịch vụ shipside, làm kìm hãm sự phát triển của cảng.

“Đặc biệt, với mức chênh lệch trên, nhiều hãng tàu vẫn đưa hàng ra bãi ngoài cảng, gây ùn tắc giao thông khu vực sau cảng”, ông Tuấn nói và cho rằng, trong các lộ trình tiếp theo, Bộ GTVT cần nghiên cứu cân bằng mức giá của hai tác nghiệp bốc dỡ hàng từ tàu (sà lan) đến bãi cảng và từ tàu (sà lan) đến ô tô để giải quyết các bất cập đang tồn tại, bảo đảm quyền lợi cho doanh nghiệp kinh doanh, khai thác cảng.

Theo Báo Giao thông

Khủng hoảng COVID-19 thúc đẩy tái cấu trúc hiệu quả hơn cho bán lẻ

Dù COVID-19 đang đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cho lĩnh vực bán lẻ nhưng nhìn theo hướng tích cực đây sẽ là cơ hội để kích hoạt sự đổi mới, giúp bán lẻ chuyển đổi cấu trúc nhanh chóng, phù hợp với xu hướng tiêu dùng mới.

Việc đảm bảo chuỗi cung ứng hàng hóa thông suốt giúp các nhà bán lẻ kịp thời cung cấp hàng hóa trong mọi tình huống

Đảm bảo chuỗi cung ứng thông suốt

Nghiên cứu mới nhất của Công ty Nghiên cứu thị trường Kantar chỉ ra rằng, sự thay đổi hành vi mua sắm của người tiêu dùng trong mùa dịch đang mang lại cơ hội cho nhiều nhà bán lẻ khác nhau. Các nhà bán lẻ truyền thống như Big C, MM Mega Market… đã đạt mức tăng trưởng ấn tượng trong khoảng thời gian trước khi thực hiện lệnh giãn cách xã hội. Thậm chí sau giãn cách, sức mua tại các kênh bán lẻ này vẫn được duy trì ổn định.

Theo chia sẻ từ Tập đoàn Masan Group, kết thúc quý I/2020, kênh bán lẻ VinCommerce (được Masan hoàn tất sáp nhập vào cuối năm 2019) của tập đoàn này đã đạt tăng trưởng doanh thu thuần 40%, lợi nhuận cũng cải thiện đáng kể so với cùng kỳ. Để có doanh thu lợi nhuận như trên, trong giai đoạn đại dịch COVID-19 bùng phát, Masan đã đảm bảo chuỗi cung ứng hoạt động thông suốt, cung cấp đầy đủ hàng hóa với giá cả bình ổn, chất lượng cao đến tay người tiêu dùng. Đáng chú ý, COVID-19 bùng phát đúng thời điểm dịch tả lợn châu phi có dấu hiệu quay trở lại tại một số địa phương song Masan MEATLife (công ty thành viên của Masan – đơn vị sở hữu thương hiệu thịt mát MEATDeli) đã tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh cao nhất nên đảm bảo đưa đến tay người tiêu dùng sản phẩm thịt lợn an toàn nhất.

Tương tự, Saigon Co.op với hơn 800 điểm bán đã làm rất tốt việc đảm bảo chuỗi cung ứng trong mùa dịch bệnh. Ông Nguyễn Anh Đức – Tổng giám đốc Saigon Co.op – chia sẻ, nhà bán lẻ này đã luôn đảm bảo được lượng hàng cung ứng đầy đủ trong suốt mùa dịch nhờ lên kế hoạch tăng lượng hàng dự trữ ngay từ đầu tháng 2/2020 và đặt hàng dự trữ về các kho trung tâm tại Bình Dương, miền Tây, miền Bắc. Saigon Co.op cũng thực hiện đàm phán ký thỏa thuận dự trữ hàng tại kho các nhà cung cấp; dự trữ tại kho các siêu thị để kịp thời cung ứng hàng; có kế hoạch dự trữ riêng cho từng siêu thị để kịp thời cung cấp hàng hóa cho khách hàng.

Chuyển đổi theo xu hướng

Giới chuyên gia cho rằng, COVID-19 dù đang đặt ra nhiều khó khăn, thách thức đối với lĩnh vực bán lẻ song đây là cuộc khủng hoảng để kích hoạt sự đổi mới, khiến lĩnh vực bán lẻ tại Việt Nam chuyển đổi mạnh mẽ hơn. Đặc biệt, xu hướng mua sắm qua online trong bối cảnh mọi người phải hạn chế đi lại, tụ tập đến nơi đông người để phòng chống dịch bệnh đã được các nhà bán lẻ tại Việt Nam tận dụng phát triển. Điều này không chỉ giúp tăng trưởng doanh thu trong dịch mà còn trở thành xu hướng (kênh) mua sắm trong tương lai.

Theo đại diện Công ty AEON Việt Nam, ngay từ đầu tháng 2, khi dịch chưa bùng phát, AEON Việt Nam đã nhận thấy được xu hướng mua sắm online sẽ tăng mạnh nên công ty đã tăng cường thêm nhân sự cho bộ phận giao hàng, thúc đẩy mua sắm online. Nhờ vậy kết quả kênh bán hàng online của AEON Việt Nam đã tăng trưởng rất ấn tượng, số lượng đơn hàng online tăng gấp 3 lần trong dịch vừa qua. Đặc biệt đơn vị còn có dịch vụ đi chợ hộ qua điện thoại nhằm hỗ trợ các khách hàng chưa rành về công nghệ mua sắm trên app và website, người tiêu dùng chỉ cần gọi đến số điện thoại quầy dịch vụ khách hàng sẽ có nhân viên hỗ trợ lựa chọn hàng hoá rồi thanh toán tiền mặt khi nhận hàng hoặc trả qua thẻ. Đại diện của AEON Việt Nam cho biết, đây cũng là xu hướng công ty sẽ tiếp tục đẩy mạnh trong thời gian tới kể cả khi hết dịch.

Cách mà AEON Việt Nam thực hiện cũng được Saigon Co.op triển khai. Ông Đỗ Quốc Huy – Giám đốc Marketing của Saigon Co.op – cho biết, việc đẩy nhanh các hình thức này đã giúp doanh số bán ra của Saigon Co.op được duy trì, trong đó kênh bán online đã tăng gấp 10 lần so với trước đây.

Với Masan, việc triển khai bán hàng online, đặt hàng qua điện thoại không chỉ đáp ứng nhu cầu khách hàng mà còn để đảm bảo mục tiêu doanh thu cho VinCommerce sẽ đạt 45.000 – 48.000 nghìn tỷ đồng trong năm 2020.

Trong khi đó siêu thị Big C, ngoài kịp thời triển khai bán hàng qua điện thoại đã bổ sung tính năng đi chợ online trên ứng dụng Chopp còn Lotte Mart có ứng dụng mua sắm trực tuyến Speed L và tất cả đều được người tiêu dùng đón nhận tích cực.

“Có thể thấy, COVID-19 khiến lĩnh vực bán lẻ tại Việt Nam chuyển đổi cấu trúc nhanh chóng hơn theo hướng bán lẻ hiện đại để phù hợp với xu hướng tiêu dùng mới và tốc độ của quá trình này sẽ ngoài sức tưởng tượng của chúng ta” – Chủ tịch Tập đoàn Masan Group – ông Nguyễn Đăng Quang – khẳng định.

Theo Báo Công Thương điện tử